Bí ẩn chuyện hiển linh kỳ lạ của Bố Cái Đại Vương

(Kiến Thức) – Chuyện về sự ra đời của Bố Cái đại vương Phùng Hưng là một trong những câu chuyện ly kỳ về xuất thân nhuốm màu huyền bí của các đấng quân vương.

Các vị
vua thời trước đều được xưng tụng là những bậc phi phàm, khác thường thế
nên người đời đã đặt ra nhiều thuyết lạ với những chi tiết ly kỳ bao
quanh xuất thân của những vị vua ấy, trong đó có câu chuyện về những
giấc mơ hạ sinh ra đế vương nhuốm màu sắc huyền bí, lạ lùng… Và chuyện
về sự ra đời của Bố Cái đại vương Phùng Hưng là một trong những câu chuyện ly kỳ như thế.
Giấc mộng thiên sứ xin đầu thai làm con
Tương truyền vợ chồng Phùng Hạp Khanh
đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con, một hôm vợ ông đi cầu tự, khi trở về
thấy người khang khác bèn kể lại cho chồng biết, đêm ấy cả hai vợ chồng
Phùng Hạp Khanh đều nằm mộng thấy một tiên ông nói là vâng lệnh Thượng
Đế xuống ban thưởng cho người có lòng nhân đức, rồi đưa cho chùm ba quả
đào lớn tỏa mùi thơm phức nói là đưa cho thê tử ăn, ắt sinh quý tử. Nói
xong vị tiên xoa đầu ông ba cái rồi biến mất.
Khi tỉnh dậy, vợ chồng đều tin rằng đó
là giấc mộng lành, sau hôm đó bà họ Sử có mang, sau 12 tháng, vào một
ngày đẹp trời thì hạ sinh ba người con trai, con cả đặt tên là Phùng
Hưng (tự là Công Phấn), con thứ hai là Phùng Hải (tự là Tư Hào), con út
là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt). Khi trưởng thành, ba anh em họ Phùng nổi
tiếng là người khôi ngô, tuấn tú, thông minh, có chí lớn, giỏi võ nghệ
và đặc biệt là sức khỏe phi thường.

Bi an chuyen hien linh ky la cua Bo Cai Dai Vuong
Tiên ông ban đào. Hình minh họa. 

Theo bản thần tích làng Thịnh Hào (nay
thuộc khu vực Kim Mã, nội thành Hà Nội) thì thời ấy có con yêu quái (gọi
là Hắc Hán) thường tác oai tác quái, hãm hại nhân dân. Một hôm Phùng
Hạp Khanh trên đường về nhà, lúc đó trời đã tối, con yêu hiện ra chặn
đường bị ông rút kiếm chém, từ đó nó biến mất, không xuất hiện nữa. Vì
trừ yêu quái, có công với dân nên Ngọc hoàng thượng đế cho ba vị thần
xuống đầu thai làm con của Phùng Hạp Khanh, thần tích có đoạn viết:

“Một hôm, đang giờ ngọ vào giấc ngủ
trưa, Hạp Khanh mơ thấy ba người. Một người đội mũ đầu hổ, mặc áo chầu
thêu rồng, tự xưng là Đại La Thiên sứ thánh. Một người chít khăn phốc
đầu, mặc áo màu xanh nhạt, tự xưng là Giao Hải Đại Quan tôn thần. Một
người đội khăn đỏ, mặc áo gấm xanh sẫm, tự xưng là Thiên La võ tướng. Cả
ba đều diện mạo đường hoàng, thân cao mười thước, có sức đuổi gió, chém
chớp, tiến đến trước nhà.
Cùng Hạp Khanh tương kiến, muốn chuyện trò. Trong khi hàn thuyên, những người này tự bảo rằng:
– Lúc trước, ông đã trừ Hắc Hán, có
thể cứu giải nguy nan cho chúng sinh. Thượng đế khen ngợi lắm, cho rằng
ông có công lớn trừ ác. Vì vậy, sai chúng tôi tới đây trao cho ông chức
tước mãi mãi, để ông được thành tựu. Ông hãy nhận lấy tước trời, không
được từ chối.
Hạp Khanh mừng rỡ tỉnh dậy, nhìn ra
cửa sổ phía Tây. Vừa tỉnh dậy, còn nhớ rành rành giấc mộng, nghĩ thầm
không biết thế nào. Tháng ấy, phu nhân có mang, 14 tháng sau mới sinh
được ba bé trai, tướng mạo khác thường”.
Tác giả Phan Thị Bảo trong sách “Tiếng vọng Đường Lâm” có diễn tả lại huyền tích này quan những vần thơ như sau:
Một hôm yêu quái hiện hình,
Nhe răng, quắc mắt, dọa rình dân qua.
Từ trẻ thơ đến cụ già,
Người người hoảng sợ, nhà nhà thất kinh.
Hạp Ông tìm kế đi rình,
Lăm lăm tay kiếm, quên mình xông pha.
Băm thây gian tặc làm ba,
Trăm họ cảm phục tài hoa người hùng.
Đêm chìm vào xóm mông lung,
Hạp Ông hỉ hả vui cùng giấc mơ.
Tiên ông râu tóc bạc phơ,
Gọi Người thức dậy chờ giờ thưởng công:
“Muốn con nối dõi cha ông,
Ta cho sinh được con Rồng cháu Tiên”.
Phép thần đem đến quả nhiên,
Sau mười hai tháng sinh liền ba trai.
Uy nghi dáng mạo danh tài,
Tóc mun, mắt xếch, mày ngài, trán cao.
Làn môi tựa sắc hoa đào,
Tai to, mặt lớn, người nào cũng vinh.
Gương mặt hiển tướng uy linh,
Lớn lên như thổi, thân hình phổng phao.
Vua Lớn hiển linh phù giúp nước
Chính sử chép rằng Bố Cái Đại vương Phùng Hưng
mất năm Tân Mùi (791), nhưng có nguồn dã sử lại cho rằng qua đời ngày
13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức ngày 13 tháng 9 năm 802). Lăng mộ Phùng
Hưng được đặt ở phía Tây thành Tống Bình, ngày nay ở đầu phố Giảng Võ
vẫn được giữ gìn chu đáo, trên bia đề bốn chữ “Phùng Hưng cố lăng”. Tại
quê hương và nhiều nơi khác đã xây dựng đền thờ Phùng Hưng để tỏ lòng
nhớ thương và cúng lễ cầu mong Ngài phù hộ cho dân chúng được an cư lạc
nghiệp.
Sau khi mất Bố Cái Đại vương Phùng
Hưng rất linh thiêng, những câu chuyện lạ kỳ như vậy được lưu truyền
trong dân gian và thư tịch cổ, như trong sách Việt điện u linh viết
rằng:
“Sau khi mất, Bố Cái Đại vương rất
hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên
nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những
đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng
vẳng nữa. Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm
đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho
cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ
Vương ở phía Tây của phủ đô hộ.

Bi an chuyen hien linh ky la cua Bo Cai Dai Vuong-Hinh-2
 Uy linh Bố Cái Đại Vương. Tranh minh họa: Mythuat.net.

Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi
việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ
xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi
vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt. Khi Ngô Tiên
Chủ dựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta. Ngô Tiên Chủ ngày đêm
lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô Tiên Chủ nằm mơ, thấy
có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến nói rõ họ tên của mình và bảo rằng:
– Tôi đã trù tính, sắp sẵn các đội
thần binh để giúp sức Nhà vua, xin Nhà vua hãy gấp tiến binh, đừng lo
nghĩ gì cả. Đến khi Ngô Tiên Chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe
trên không có tiếng binh mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng.
Ngô Tiên Chủ lấy làm lạ, liền sai sửa
sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô Tiên
Chủ đem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau, các
triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285),
nhà vua (Nhân Tông) sắc phong là Phù Hựu Đại Vương. Năm Trùng Hưng thứ
tư (1288) lại gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20
(1312), vua (Anh Tông) gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa nữa. Đến nay,
sự linh thiêng vẫn được sùng phụng như xưa”.
Trong bản thần tích làng Thịnh Hào cũng có đoạn ghi chép tương tự như sau:
“Sau khi Vương chết, rất linh ứng, dân
chúng cho là thần, lập tức dựng đền ở phía tây đô phủ để thờ cúng. Phàm
có những việc trộm cắp bất minh, đến đền minh thệ, lập tức sẽ thấy lành
dữ. Vì vậy, ở đây hương hỏa không ngớt. Đến khi Ngô tiên chúa sáng
nghiệp khai quốc, quân Nam Hán sang xâm lược. Tiên chúa rất lo lắng, đêm
mơ thấy Vương mặc áo giáp sáng, đốc lĩnh trăm vạn hùng binh, tướng soái
ngàn người, đều cầm đao thương qua kích, cờ biển ngựa voi đông vô kể.
Khi gặp tiên chúa, tự xưng họ tên rồi nói rằng:
– Bọn thảo khấu ngu xuẩn ấy đâu đáng nhắc tới. Ta sẽ giúp hiền khanh một tay.
Tiên chúa lấy làm lạ, tỉnh giấc. Đến
khi dẹp xong giặc, tiên chúa xuống chiếu cho xây dựng đền thờ đường bệ,
nghiêm trang, trồng hoa cỏ, treo cờ lớn, cử nhạc, nổi trống, cúng lễ
thái lao. Các triều sau đều theo lễ này”.
Đánh giá về công lao của Phùng Hưng, dân gian có câu:
Gương Phùng Hưng ở Đường Lâm,
Vẫn còn ghi những tháng năm huy hoàng.
Lê Thái Dũng

Similar Posts