Bí ẩn cuộc Chiến tranh Iran – Iraq những năm 1980-1988

Chiến tranh Iran-Iraq từ năm 1980-1988 đã vĩnh viễn thay đổi tiến trình lịch sử của Iraq, gây căng thẳng về chính trị và xã hội cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của nước này.

.

Khu vực tranh chấp Arvand Roud ở biên giới Iran-Iraq.


Khu vực tranh chấp Arvand Roud ở biên giới Iran-Iraq.

Nhìn
từ góc độ lịch sử, cuộc chiến năm 1980 thực ra chỉ là một giai đoạn
khác của cuộc xung đột Arab-Ba Tư cổ đại và được thổi bùng lên bởi các
tranh chấp biên giới trong thế kỷ 20.

CĂN NGUYÊN CUỘC CHIẾN

Nhiều nhà quan sát cho rằng quyết định đưa quân vào Iran của nhà lãnh
đạo Iraq Saddam Hussein là một tính toán cá nhân sai lầm. Ông Saddam
Hussein lo sợ rằng lãnh đạo phong trào cách mạng mới của Iran sẽ đe dọa
sự cân bằng mong manh giữa hai dòng Hồi giáo Sunni và Shiite ở Iraq,
đồng thời lợi dụng những điểm yếu địa chiến lược của nước này.

Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh Iran-Iraq tương đối rộng, bao gồm cả
chia rẽ tôn giáo, tranh chấp biên giới và khác biệt về chính trị, nhưng
trên hết Iraq đã phát động cuộc chiến nhằm củng cố quyền lực đang lên
của mình trong thế giới Arab và để thay thế Iran trở thành nước thống
trị vịnh Ba Tư.

Iraq và Iran đã đụng độ ở khu vực biên giới trong nhiều năm, làm sống
lại cuộc tranh chấp con sông Shatt al Arab (người Iran gọi là Arvand
Rud) năm 1979. Đây là một con sông quan trọng với ngành xuất khẩu dầu mỏ
của cả hai nước. Iraq tuyên bố con sông dài 200 km và kéo dài tới bờ
biển Iran là lãnh thổ của mình, trong khi Iran khẳng định rằng theo Thỏa
thuận Algiers năm 1975, Iraq đã công nhận biên giới trên Shatt al-Arab
chạy dọc theo toàn bộ đường nước lớn là biên giới chính thức của họ.

Trong khi đó, người Iraq coi cuộc cách mạng Hồi giáo Iran là mối đe dọa
với họ. Ông Ayatollah Khomeini, người lãnh đạo cuộc Cách mạng Iran 1979,
vốn “ngậm trái đắng” sau khi bị trục xuất khỏi Iraq năm 1977 sau 15 năm
sống ở An Najaf, đã thề trả thù cho các nạn nhân người Shiite sống dưới
chế độ đàn áp của đảng Baath cầm quyền ở Iraq.

Tuy nhiên, Iraq tự tin hơn trước chiến dịch quân sự chống Iran khi Iran
gặp nhiều vấn đề: quân đội tan rã, phần lớn quan chức cấp cao nhất đều
bị hành quyết; bạo loạn do tranh chấp lao động do chính tình báo Iraq
kích động, phong trào nổi dậy ở khu vực người Kurd. Iran thời điểm đó
không chỉ thiếu sự lãnh đạo mà lực lượng vũ trang Iran còn thiếu phụ
tùng thay thế cho các trang thiết bị quân sự do Mỹ sản xuất. Các vấn đề
này khiến chính phủ của ông Khomeini lâm vào thách thức nghiêm trọng.

Trái lại, lúc đó, người Iraq có thể huy động tới 12 sư đoàn vũ trang đầy
đủ những vũ khí tân tiến nhất của Liên Xô. Quân đội Iraq có 190.000
binh sĩ, 2.200 xe tăng và 450 máy bay. Thêm nữa, khu vực bên kia sông
Arvand-Roud cũng không gây trở ngại gì lớn cho Iran. Quân đội Iraq lại
còn có trang thiết bị vượt sông của Liên Xô.

Các tướng lĩnh Iraq cho rằng khu vực Iran ở bên kia sông Kharkheh và
Karoun chỉ được phòng thủ mỏng, không thể đối chọi với các sư đoàn thiết
giáp vũ trang tận răng của Iraq. Tình báo Iraq cũng cho biết lực lượng
Iran ở Khoizestan trước đây gồm hai sư đoàn nằm ở Ahvaz và Abadan giờ
chỉ còn là những đội hình nhỏ cỡ tiểu đoàn, trang bị mỏng. Điều duy nhất
người Iraq không chắc chắn là khả năng chiến đấu của không quân Iran
vốn có những máy bay tinh vi nhất do Mỹ chế tạo.

Về phần mình, lãnh đạo Ayatollah Ruhollah Khomeini cho rằng người Hồi
giáo dòng Shiite ở Iraq, Saudi Arabia và Kuwait có thể đi theo con đường
của người Iran là nổi dậy lật đổ chính phủ và cùng lập ra một quốc gia
Hồi giáo thống nhất. Ông Khomeini và những nhà cách mạng Hồi giáo Iran
khác coi chủ nghĩa thế tục của ông Saddam là “phi Hồi giáo”, là “con rối
của quỷ Satan”, đồng thời kêu gọi người Iraq lật đổ chế độ của ông
Saddam Hussein.

Từ tháng 3/1980, quan hệ giữa hai nước đi xuống nghiêm trọng. Iran đơn
phương giáng cấp quan hệ ngoại giao xuống mức đại biện, rút đại sứ về
nước và yêu cầu phía Iraq có hành động tương ứng. Căng thẳng dâng cao
vào tháng 4/1980, khi xảy ra vụ ám sát hụt Phó Thủ tướng kiêm Ngoại
trưởng Iraq Tariq Aziz và 3 ngày sau là vụ đánh bom nhằm vào đoàn tang
lễ trên đường đến nghĩa trang mai táng những sinh viên thiệt mạng trong
vụ tấn công trước đó.

Iraq đổ lỗi cho Iran đứng sau các vụ việc trên. Ngày 17/9/1980, trong
một bài phát biểu trước quốc hội, ông Saddam Hussein nói: “Những hành
động thường xuyên và rõ ràng của Iran vi phạm chủ quyền của Iraq… đã
khiến cho Hiệp định Algiers 1975 không còn giá trị… Dòng sông Shatt
al-Arab phải được trả lại cái tên Arab mà nó đã mang suốt chiều dài lịch
sử và Iraq phải được trả lại toàn bộ các quyền chủ quyền đối với dòng
sông”.

Ngày 22/9/1980, Iraq đã mở cuộc tấn công toàn diện vào Iran.

Phi công Iraq chuẩn bị trước khi không kích Iran.


Phi công Iraq chuẩn bị trước khi không kích Iran.

Ngày 22/9/1980, một phi đội MiG-23 và
MiG-21 của Iraq đã tấn công căn cứ không quân của Iran. Mục đích của họ
là phá hủy lực lượng không quân của Iran ngay từ trên mặt đất. Iraq đã
phá hủy đường băng, kho nhiên liệu và đạn dược, nhưng phần lớn máy bay
của Iran vẫn nguyên vẹn. Nguyên nhân là máy bay của Iran đều được bảo vệ
trong các nhà chứa máy bay được gia cố đặc biệt. Chỉ trong vài giờ, máy
bay F-4 Phantom của Iran đã cất cánh từ các căn cứ bị không kích, tấn
công đáp trả thành công các mục tiêu chiến lược quan trọng gần các thành
phố lớn của Iraq, và trở về hầu như không tổn thất gì.
Cùng thời điểm không kích các sân bay của Iran, 6 sư đoàn của Iraq đã
xâm nhập vào Iran theo 3 mũi trong một cuộc tấn công bất ngờ. Iraq đã
thành công bước đầu khi tiến sâu vào trong lãnh thổ Iran 8 km và chiếm
được một khu vực 1.000 km2 của Iran.

Nhằm nghi binh trên mặt trận phía bắc, một sư đoàn bộ binh sơn cước cơ
giới hoạt động tại vùng núi Iraq đã tràn san tấn công các đơn vị đồn trú
ở Qasr-e Shirin và chiếm đóng một khu vực trải dài 30 km về hướng đông
đến chân núi Zagros. Khu vực này có ý nghĩa quan trọng chiến lược bởi vì
các đường cao tốc chính nối Baghdad-Tehran đi qua đây.

Ở mũi tấn công trung tâm, quân đội Iraq chiếm đóng Mehran, khu vực đồng
bằng phía tây của dãy núi Zagros tại tỉnh Ilam, đồng thời tiến về phía
đông đến chân núi. Mehran là một vị trí quan trọng trên con đường chính
từ bắc vào nam, gần biên giới phía Iran.

Mũi tấn công chính là ở phía nam, nơi mà 5 sư đoàn thiết giáp và cơ giới
đánh chiếm Khouzestan theo hai hướng, một hướng vượt qua sông
Arvand-roud gần Basra, bao vây và cuối cùng là chiếm đóng Khorramshahr,
còn hướng thứ hai nhằm vào Sousangerd là có Ahvaz-căn cứ quân sự chính
yếu ở Khouzestan. Được hỗ trợ bởi hỏa lực pháo binh hạng nặng, quân đội
Iraq ở hướng này đã có những bước tiến nhanh chóng và đáng kể-tiến sâu
gần 80 km chỉ trong vài ngày đầu tiên.

Binh sĩ Iran đẩy lùi các cuộc tấn công của xe tăng Iraq.

Trong cuộc chiến ở Dezful thuộc Khouzestan, nơi có một căn cứ không quân
lớn, chỉ huy quân đội Iran tại đây đã yêu cầu không quân hỗ trợ để
không bị thất thủ. Với sự gia tăng lực lượng không quân của Iran, các
bước tiến của Iraq đã phần nào bị chậm lại.

Iraq tiến hành một trận đánh chiếm lãnh thổ quy mô lớn cuối cùng vào đầu
tháng 11/1980. Vào ngày mùng 3/11, lực lượng Iraq đã tiến tới Abadan
nhưng bị đẩy lui. Mặc dù họ đã bao vây Abadan từ ba phía và chiếm đóng
một phần của thành phố, người Iraq đã không thể vượt qua sức kháng cự
mạnh mẽ tại đây; các khu vực của thành phố vẫn nằm dưới sự kiểm soát của
Iran và được tiếp tế bằng thuyền vào ban đêm. Ngày 10/11, Iraq chiếm
được Khorramshahr sau một cuộc chiến đẫm máu với người dân địa phương.
Thương vong trong trận đánh này với cả hai bên đều rất lớn. Iraq có
6.000 binh sĩ thương vong còn con số thương vong của Iran còn cao hơn.

Các cuộc tấn công chớp nhoáng của Iraq nhằm vào các lực lượng phân tán
của Iran khiến nhiều nhà quan sát nghĩ rằng Iraq sẽ giành chiến thắng
chỉ trong vòng vài tuần. Trong thực tế, quân đội Iraq đã nắm quyền kiểm
soát sông Arvand-roud và một lãnh thổ trải dài 48 km của Iran.

Về phía Iran, sức kháng cự trước quân Iraq mạnh mẽ bất ngờ nhưng lại
không được tổ chức bài bản cũng như không thành công đồng đều trên tất
cả các mặt trận. Iraq dễ dàng tiến vào miền bắc và miền trung, đè bẹp
các cuộc kháng cự nhỏ lẻ của Vệ binh cách mạng Iran. Tuy nhiên, quân đội
Iraq phải đối mặt với sức kháng cự bền bỉ tại Khouzestan. Tổng thống
Iraq Saddam Hussein tính toán rằng gần 3 triệu người Arab ở Khouzestan
sẽ về phe người Iraq chống lại Iran. Nhưng ngược lại, họ tham gia vào
lực lượng vũ trang của Iran và chiến đấu tại Dezful, Khorramshahr và
Abadan. Chẳng bao lâu sau khi chiếm được Khorramshahr, quân đội Iraq đã
bị mất thế chủ động của mình.

Về phía Iran, nước này bác bỏ đàm phán và tổ chức phòng tuyến chống lại
lực lượng quân sự mạnh của Iraq. Iran không chấp nhận thất bại và từng
bước tiến hành một loạt các đợt phản công vào tháng 1/1981. Tất cả các
tình nguyện viên và các lực lượng vũ trang chính quy Iran luôn sẵn sàng
đánh trả.
Tuy nhiên, đợt phản công lớn đầu tiên của Iran đã thất bại vì lý do
chính trị và quân sự. Tổng thống Bani Sadr đã dính líu vào một cuộc đấu
tranh quyền lực với các nhân vật tôn giáo quan trọng và mong muốn được
các lực lượng vũ trang ủng hộ chính trị bằng cách tham gia trực tiếp vào
các chiến dịch quân sự. Thiếu chuyên môn quân sự, ông đã phát động một
cuộc tấn công với sự tham gia của 3 trung đoàn thiết giáp quá sớm mà
không có sự hỗ trợ của các đơn vị Vệ binh cách mạng Hồi giáo. Chính vì
quyết định của ông mà quân đội Iran đã bị bao vây cả ba mặt.

Sau khi ông Bani Sadr bị lật đổ, Iran đã giành chiến thắng quan trọng
đầu tiên của mình nhờ lãnh tụ Khomeini. Quân đội và lực lượng Vệ binh
cách mạng Hồi giáo của Iran đã áp đảo đối phương và phối hợp với nhau để
buộc Iraq chấm dứt bao vây khu vực Abadan vào tháng 9/1981. Lực lượng
Iran cũng đánh bại Iraq tại khu vực Qasr-e Shirin trong tháng 12/1981 và
tháng 1/1982. Các lực lượng vũ trang Iraq đã chùn bước do không muốn
thương vong cao và do đó đã không tổ chức tấn công.

Để đối phó với hệ thống phòng không của Iraq, Iran đã sớm phát hiện ra
rằng một nhóm gồm hai, ba hoặc bốn máy bay F-4 bay tầm thấp có thể bắn
trúng mục tiêu gần như tại bất cứ nơi nào ở Iraq. Phi công Iran đã né
được các tên lửa phòng không SA-2 và SA-3 của Iraq.

Quyền tư lệnh của Iran đã được chuyển từ các nhà lãnh đạo quân đội vào tay các giáo sĩ vào giữa năm 1982.

Binh sĩ Iraq bị bắt làm tù binh.

Binh sĩ Iraq bị bắt làm tù binh.

Trong tháng 3 năm đó, Iran đã phát động
“Chiến dịch Chiến thắng Dứt khoát”. Iran đã thâm nhập vào khu vực “bất
khả xâm phạm” của Iraq, chia rẽ lực lượng của Iraq và buộc người Iraq
phải rút lui. Chiến dịch này được phối hợp giữa quân đội, Vệ binh cách
mạng Hồi giáo và tình nguyện viên, được coi là bước ngoặt vì thế trận đã
chuyển từ tay Iraq sang Iran.

Tháng 5/1982, các đơn vị của Iran cuối cùng đã giành lại vùng
Khorramshahr dù thương vong khá cao. Sau chiến thắng này, người Iran vẫn
duy trì áp lực lên các lực lượng còn lại của Iraq và Tổng thống Saddam
Hussein đã phải tuyên bố rút khỏi lãnh thổ Iran. Ông Hussein ra lệnh rút
quân đến biên giới quốc tế, hy vọng rằng Iran sẽ đồng ý để chấm dứt
chiến tranh. Iran không chấp nhận việc rút quân này như là sự chấm dứt
cuộc xung đột và tiếp tục cuộc tấn công nhằm vào trong lãnh thổ Iraq.
Cuối tháng 6/1982, Iraq tuyên bố sẵn sàng đàm phán về các thỏa thuận
giải quyết chiến tranh và rút quân ra khỏi Iran. Tuy nhiên, Iran đã từ
chối đề nghị này.

Trong tháng 7/1982, Iran đã mở chiến dịch Ramadan vào lãnh thổ Iraq, gần
Basra. Iran đã sử dụng lực lượng tình nguyện viên và Vệ binh cách mạng
Hồi giáo trong một trong những trận đánh trên bộ lớn nhất kể từ năm
1945. Lực lượng tình nguyện có độ tuổi từ 9 đến hơn 50, dù tràn đầy
nhiệt huyết nhưng phần lớn chưa qua huấn luyện, đã tràn qua các bãi mìn
và công sự để dọn đường cho xe tăng. Họ hứng chịu tổn thất nặng nề nhưng
vẫn giành lại được một số vùng lãnh thổ.

Đến cuối năm 1982, Iraq đã được cung cấp thêm trang thiết bị mới và cuộc
chiến tranh trên bộ bước vào một giai đoạn mới. Năm 1983, Iran đã tiến
hành 3 cuộc tấn công dọc theo biên giới nhưng không thành công mà lại
phải chịu tổn thất nặng nề. Trong năm 1983, Iran tiếp tục thiệt hại nặng
nề về người nhưng vẫn chiếm được ưu thế rõ rệt trong các cuộc tấn công
và cuối cùng giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh nhiều tổn thất
này.

Bắt đầu từ năm 1984, mục tiêu quân sự của Iraq chuyển từ việc kiểm soát
lãnh thổ Iran sang ngăn chặn đà tiến của Iran bên trong lãnh thổ Iraq.
Hơn nữa, bằng các cách khác nhau, Iraq đã buộc Iran ngồi vào bàn đàm
phán. Đầu tiên, Tổng thống Saddam Hussein đã tìm cách khiến Iran chịu
tổn thất ngày càng nhiều về người và của trong cuộc chiến.

Với mục đích này, Iraq đã mua vũ khí mới, chủ yếu là từ Liên Xô và Pháp.
Iraq cũng xây xong “khu vực chết chóc” (trong đó bao gồm chủ yếu là các
khu bị làm ngập nhân tạo gần Basra) để ngăn chặn các đơn vị của Iran.
Ngoài ra, Iraq còn sử dụng vũ khí hóa học và tấn công các trung tâm kinh
tế. Dù Iraq quyết tâm không cho Iran tiến xa hơn nhưng vào tháng
3/1984, các đơn vị của Iran đã chiếm được nhiều khu vực của quần đảo
Majnoun, nơi có các mỏ dầu có giá trị về kinh tế cũng như chiến lược của
Iraq.

Các binh sĩ Iran tấn công.

Bên cạnh đó, Iraq cũng sử dụng các biện pháp ngoại giao và chính trị.
Tháng 4/1984, Tổng thống Saddam Hussein đã đề xuất gặp riêng lãnh đạo
Iran Khomeini ở một địa điểm trung lập để thảo luận về các cuộc đàm phán
hòa bình. Tuy nhiên, một lần nữa Iran đã bác bỏ đề nghị này.

Chưa dừng tại đó, Iraq cho rằng tấn công tàu của Iran có thể khiến nước
này tổn thất và chấm dứt chiến tranh nên đã tiến hành một loạt cuộc tấn
công mới vào các tàu chở hàng của Iran vào ngày 1/2/1984. Đến năm 1984,
khoảng 300.000 binh sĩ Iran và 250.000 binh sĩ Iraq đã thiệt mạng hoặc
bị thương. Iran mặc dù đã tổn thất rất nhiều nhưng không đạt được bước
tiến nào đáng kể. Từ giữa tháng 5/1981 đến tháng 3/1984, Iran đã cáo
buộc Iraq 40 lần sử dụng vũ khí hóa học nhưng Iraq luôn bác bỏ.

Tháng 3/1986, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Javier Perez de Cuellar, chính
thức cáo buộc Iraq đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại Iran. Báo cáo của
Liên hợp quốc kết luận rằng các loại vũ khí được sử dụng bao gồm cả khí
hơi cay và khí độc. Iraq đã phủ nhận cáo buộc này. Theo một đại diện
của Anh tại Hội nghị Giải trừ quân bị ở Geneva vào tháng 7/1986, “vũ khí
hóa học của Iraq đã khiến khoảng 10.000 người thương vong”.

Trong thời gian còn lại năm 1986, hai bên đã tổ chức các cuộc tấn công
nhỏ. Vào cuối tháng 5/1987, khi chiến tranh dường như đã rơi vào bế tắc
hoàn toàn trên mặt trận phía nam, các cuộc đụng độ đã được tăng cường ở
phía bắc Iraq.

Không chỉ tấn công các mục tiêu quân sự, cả Iran và Iraq đều nhằm cả vào
các mục tiêu dầu lửa, gây ra tổn thất nặng nề cho ngành này ở cả hai
nước. Nhiều lĩnh vực xuất khẩu của Iraq đã bị xóa sổ trong cuộc chiến
tranh Iran – Iraq, hoặc do những thiệt hại liên quan đến chiến tranh
hoặc vì lý do chính trị. Năm 1982, Syria (đồng minh với Iran vào thời
điểm đó) đã chặn đường ống dẫn dầu Banias dài khoảng 800 km, có công
suất 650.000 thùng/ngày, vốn là đường dẫn sống còn của Iraq đến biển Địa
Trung Hải và thị trường dầu mỏ châu Âu. Đến năm 1983, khả năng xuất
khẩu của Iraq chỉ còn 700.000 thùng/ngày.

Tình hình sản xuất dầu của Iran cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Mọi hoạt động
sản xuất dầu thô trên bờ của Iran và dầu khai thác từ mỏ dầu Forozan
đều bị tác động lớn với 9.000 vụ ném bom trong cuộc chiến.

Tiếp đó, Iran và Iraq tham gia vào bốn trận đánh lớn từ tháng 4 đến
tháng 8/1988. Đến lúc này, cuộc chiến tranh Iran – Iraq đã kéo dài gần 8
năm, từ tháng 9/1980 đến tháng 8/1988. Chiến tranh chỉ kết thúc khi
Iran chấp nhận Nghị quyết 598 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, dẫn đến
một thỏa thuận ngừng bắn ngày 20/8/1988. Nghị quyết trên được cả Mỹ và
Liên Xô ủng hộ.

Cuộc chiến trên đã gây tổn thất cực lớn về người và vật chất và là một
trong những cuộc chiến đẫm máu nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Ước tính hơn 1,5 triệu người Iran thương vong, trong đó 1 triệu người
chết. Hàng triệu người phải tị nạn. Iraq có khoảng 300.000 người chết và
hơn 500.000 người bị thương.

Cuối cùng, các vấn đề, nguyên nhân, điều kiện dẫn tới cuộc chiến vẫn y
nguyên. Thỏa thuận ngừng bắn do Liên hợp quốc dàn xếp chỉ đơn thuần là
chấm dứt cuộc chiến. Hai quốc gia bị cô lập dấn vào một cuộc chạy đua vũ
trang với nhau và với các nước khác trong khu vực.

Theo Báo Tin Tức

Similar Posts