Bi kịch xé lòng của bà hoàng nổi tiếng nhất nhà Trần

Chỉ vì đặt nhầm niềm tin và tình thương, Hiến Từ Thái hậu đã chuốc lấy họa sát thân đầy đau đớn, thậm chí khiến vương triều một phen náo động.

      Xuất thân trong hoàng tộc Trần, sau
trở thành Hoàng Hậu rồi Thái Hậu nhà Trần, Hiến Từ Thái Hậu nổi tiếng là người
có nhân cách và phẩm giá cao đẹp, đạo đức sáng ngời, được sử sách không ngớt
ngợi khen. Tuy nhiên, chỉ vì đặt niềm tin và tình thương sai địa chỉ, vị
Thái Hậu này chẳng những chuốc lấy họa sát thân đau đớn mà còn khiến đất nước
và vương triều một phen náo động…


“Nữ Trung Nghiêu Thuấn” và chút tình
riêng

      Hiến Từ Thái Hậu (?-1369) tên là Huy
Thánh, là con gái trưởng của Đại Vương Trần Quốc Chẩn, cháu nội của Hoàng Đế
Trần Nhân Tông. Khi đến tuổi cập kê, Huy Thánh được Hoàng Đế Trần Minh Tông (1314
– 1329) đón vào cung và phong làm Lệ Thánh Hoàng Hậu. Xét về quan hệ thân tộc,
Trần Minh Tông là con trai của Trần Anh Tông (1293 – 1314) mà Trần Anh Tông là
anh ruột của Trần Quốc Chẩn nên giữa Trần Minh Tông với Huy Thánh có mối quan
hệ anh em con chú con bác.


      Lệ Thánh Hoàng Hậu là người hiền
thục, có đạo đức nhưng muộn đường con cái. Ở ngôi Hoàng Hậu đã 5 năm mà bà chưa
sinh nở gì. Theo điển lệ nhà Trần, chỉ con trai của Hoàng Hậu mới đủ tư cách kế
thừa ngai vàng. Trong khi đó, các phi tần khác có người đã sinh được Hoàng Tử.
Điều này khiến nội bộ các quan chia thành hai phe khác nhau. Một phe do cha
ruột Lệ Thánh là Trần Quốc Chẩn đứng đầu, kiên trì ý kiến đợi Hoàng Hậu sinh
Hoàng Tử mới lập Thái Tử. Phe còn lại do Văn Hiến Hầu cầm đầu có sự giúp đỡ của
Anh Tư Nguyên Phi thì chủ trương lập Hoàng Tử Trần Vượng (con của Anh Tư).


      Cuối cùng, bằng thủ đoạn vu cáo Trần
Quốc Chẩn mưu phản, Văn Hiến Hầu và Anh Tư đã chiến thắng. Trần Quốc Chẩn bị
bắt giam và bị bỏ đói đến chết. Trần Vượng được phong Hoàng Thái Tử và sau này
là Hoàng Đế Trần Hiến Tông (1329-1341). Cũng vì việc này, Lệ Thánh mang
trong mình một nỗi buồn u uất
mãi không thôi.

 

Bi kich xe long cua ba hoang noi tieng nhat nha Tran
 Hiến Từ Thái Hậu nổi tiếng là người có nhân cách và phẩm giá cao đẹp, 
đạo đức sáng ngời. Tranh minh họa.

     

      Năm 1329, khi Trần Minh Tông nhường
ngôi cho Thái Tử Trần Vượng, Lệ Thánh được Tân Hoàng Đế tôn làm Hiến Từ Thái
Thượng Thái Hậu. Vài năm sau, bà lần lượt sinh hạ một Công Chúa và hai Hoàng
Tử. Đó là Công Chúa Thiên Ninh và Hoàng Tử Trần Nguyên Dục, Trần Hạo. Tuy đã
sinh đích trưởng nhưng Hiến Từ Thái Hậu không muốn vì chuyện giành lại ngôi vị
cho con mà gây ra một cuộc biến động nơi cung đình. Ngược lại, trong mọi mối
quan hệ, bà đều biết cách cư xử thấu đạt. “Người bấy giờ khen Thái Hậu là trọn
đạo làm mẹ, tuy là phận con đích, con thứ không giống nhau mà lòng nhân từ
không đối với con nào khác con nào, để cho ân nghĩa của vua tôi, cha con, anh
em không chút thiếu sót, từ đời cận cổ đến nay chưa có người nào được như thế”.
(Đại Việt sử kí toàn thư). Và, nếu dưới thời nhà Tống bên Trung Quốc, Tống Anh
Tông đã dùng 4 chữ “Nữ trung Nghiêu Thuấn” (Vua Nghiêu, vua Thuấn trong giới
nữ) để khen Cao Hoàng Hậu là người nhân đức, thì Hiến Từ Thái Hậu nhà Trần cũng
xứng đáng với lời ngợi khen đó.


      Lại nói về hai con trai của Hiến Từ
thì Nguyên Dục tuy là phận con trưởng nhưng tư chất tầm thường, ham chơi từ nhỏ
đã thành tính. Còn Hoàng Tử Hạo là người thông minh ham học nên được Thượng
Hoàng Minh Tông rất thương yêu. Nhưng Hiến Từ có phần thiên về Nguyên Dục hơn.
Ở đây, ngoài tình thương còn có nỗi lo lắng và trách nhiệm của người mẹ đối với
đứa con không có gì nổi bật của mình.


      Năm 1341, Trần Hiến Tông băng hà khi
chưa có con. Thượng Hoàng Minh Tông quyết định đưa một vị Hoàng Tử khác lên
ngôi. Hoàng Hậu đã có con trai nên người kế vị chỉ có thể là Nguyên Dục hoặc
Trần Hạo. Suy tính kĩ càng, Minh Tông đã chọn Trần Hạo, dù lúc ấy mới 5 tuổi,
chứ không lập Nguyên Dục bởi Nguyên Dục “là người phóng đãng quá” (Đại Việt sử
kí toàn thư). Bản thân Nguyên Dục cũng không đòi hỏi gì mà bằng lòng với tước
phong Cung Túc Vương đến hết cuộc đời. Điều này càng khiến Thái Hậu Hiến Từ
thương yêu Nguyên Dục hơn.


      Năm 1364, Nguyên Dục mất khi mới
ngoài 30 tuổi. Nguyên Dục chỉ có một đứa con là Nhật Lễ nên Hiến Từ đã chuyển
hết tình thương yêu sang cho Nhật Lễ. Trong triều lúc ấy có những lời bàn tán
không hay về Nhật Lễ, cho rằng Nhật Lễ không phải là con ruột của Cung Túc
Vương Nguyên Dục. Hiến Từ không màng đến những tin đồn ấy, vẫn hết lòng săn sóc
đứa cháu sớm mất cha.


Một tay đưa cháu lên ngôi

      Ngày 25 tháng 5 năm Kỉ Dậu (1369),
Trần Dụ Tông (tức là Trần Hạo) băng hà. Ông ở ngôi 28 năm (1341 – 1369) nhưng
không có con nối dõi. Lúc sinh thời, ông đã nhận thấy tình cảm đặc biệt của
Thái Hậu dành cho cha con Cung Túc Vương. Trong thâm tâm, ông cũng có phần ưu
ái đứa cháu Nhật Lễ bởi ông không có con và dẫu sao, con của người anh cùng cha
cùng mẹ cũng gần gũi hơn các huynh đệ cùng cha khác mẹ khác. Vì thế, trước lúc
lâm chung, Dụ Tông đã xuống chiếu cho Nhật Lễ vào nối đại thống, tức kế thừa
ngai vị Hoàng Đế. Hành động này của Trần Dụ Tông dẫu rất chủ quan nhưng cũng có
phần hợp lí vì đã kịp chỉ định người thừa kế, giúp hoàng tộc Trần tránh khỏi
một cuộc tương tàn tranh giành ngôi báu.


      Di huấn của Hoàng Đế đương nhiên
không ai dám cãi. Nhưng nó có được thực hiện hay không thì vị Hoàng Đế đã nhắm
mắt xuôi tay không thể nào biết được. Các triều thần ít nhiều đều nghe lời đồn
đại rằng Nhật Lễ không phải huyết thống họ Trần nhưng họ không có chứng cứ để
xác nhận hay bác bỏ điều đó. Bởi vậy, họ rất băn khoăn, chưa biết phải xử trí
thế nào. Trong số họ, lại có những người muốn tôn lập Cung Định Vương Trần Phủ
(con thứ ba của Trần Minh Tông, anh trai Trần Dụ Tông) nhưng họ cũng băn khoăn
vì làm thế là trái với di chiếu. Việc lên ngôi của Nhật Lễ do đó cũng bị dùng
dằng, trì hoãn.


      Lúc bấy giờ, người có tiếng nói cao
nhất trong triều đình và hoàng tộc là Thái Hậu Hiến Từ. Theo điển lệ, tôn lập
người kế vị là bổn phận của các đại thần, hậu cung không được can dự. Nhưng đã
gần 20 ngày trôi qua kể từ khi Dụ Tông mất mà Hiến Từ chưa thấy cháu mình đăng
cơ. Sai người thăm dò, bà mới hay sự khó xử của các quan. Không cần suy tính
nhiều, vị Thái Hậu biết mình phải làm gì vào lúc này. Bất chấp điển lệ, ngày 15
tháng 6 năm ấy, bà sai người đón Nhật Lễ lên ngôi. Trước mặt bá quan, để xua
tan nỗi nghi ngờ của họ, bà đã lớn tiếng khẳng định:


“Dục là con đích trưởng không được
làm vua, vả lại mất sớm, nay Nhật Lễ không phải là con của Dục ư?”.


      Trước sự quả quyết của Thái Hậu, các
quan không dám có ý kiến gì thêm. Họ đành chấp nhận tôn phò Nhật Lễ. Nhật Lễ
trở thành Hoàng Đế mới của nhà Trần với niên hiệu Đại Định. Về phần Hiến Từ, bà
được Nhật Lễ tôn phong làm Hiến Từ Tuyên Thánh Thái Hoàng Thái Hậu, đương nhiên
vẫn là chủ nhân tối cao của hậu cung.


Hối hận muộn màng, thân vong nước
loạn

      Đã ngồi yên trên chiếc ghế Hoàng Đế,
Nhật Lễ không muốn phải nghe thêm các lời đồn về mình nữa. Nhật Lễ phải xác
minh gốc gác của mình. Qua nhiều lần hỏi han thân mẫu, Nhật Lễ đã biết tất cả.


      Hóa ra, Nhật Lễ đích thực không phải
con cháu nhà Trần. Cha của Nhật Lễ tên là Dương Khương, vốn là một người phường
chèo nổi tiếng trong kinh thành. Còn mẹ của Nhật Lễ cũng là một đào hát nức
tiếng xinh đẹp hát hay. Trong một lần xem hát, Cung Túc Vương Nguyên Dục không
cầm lòng nổi trước sắc đẹp của cô đào, đã bức ép cô phải làm vợ mình. Trần
Nguyên Dục không biết rằng khi ấy, cô đào hát đang mang giọt máu của Dương
Khương. Khi đứa trẻ sinh ra, Nguyên Dục nhận là của mình và đặt tên là Nhật Lễ.


      Biết rõ thân thế của mình, Nhật Lễ
không khỏi thất vọng. Từ đó trở đi, Nhật Lễ chỉ “rượu chè hoang dâm, hàng ngày
chỉ vui chơi, thích chơi các trò, muốn đổi lại họ là Dương, người tôn thất và
các quan đều ngã lòng” (Đại Việt sử kí toàn thư).


      Chuyện đến tai Hiến Từ Thái Hậu.
Cuối cùng bà đã biết được mọi sự thật. Đứa cháu Nhật Lễ bà hằng thương yêu rốt
cuộc là người ngoại tộc. Bà càng không ngờ Nhật Lễ lại dám cả gan muốn bỏ họ
Trần mà khôi phục họ Dương. Cơ nghiệp nhà Trần vì bà có nguy cơ sang tay người
khác. Hiến Từ cảm thấy vô cùng hối hận vì đã trao niềm tin sai địa chỉ.
Một tay bà đưa Nhật Lễ lên, nhưng để kéo Nhật Lễ xuống là điều rất khó. Bởi
vậy, bà ngày đêm lo lắng không yên.


      Hiến Từ không biết rằng, nhất cử
nhất động của bà, Dương Nhật Lễ đều nắm rõ. Hắn đang toan tính thay triều đổi
họ thì sự phản tỉnh của Hiến Từ càng khiến hắn xem bà là đối tượng cần phải
loại trừ. Hắn phải ra tay trước Hiến Từ một bước nhằm loại bỏ rào cản nguy
hiểm, tiến tới khống chế hoàn toàn triều đình nhà Trần.


      Ngày 14 tháng 12 năm Kỉ Dậu (1369),
tức 6 tháng sau ngày lên ngôi, Dương Nhật Lễ sai người ngầm hạ độc giết chết
Hiến Từ, rồi phao lên rằng bà qua đời vì bạo bệnh. Bậc “nữ trung Nghiêu Thuấn”
của triều Trần không thể ngờ cuộc đời mình lại kết thúc tức tưởi như vậy.

 

Bi kich xe long cua ba hoang noi tieng nhat nha Tran-Hinh-2
 Tượng vũ nữ thời Trần (Khắc gỗ, chùa Thái Lạc – Hưng Yên, thế kỉ XIII-XIV). 

Bi kich xe long cua ba hoang noi tieng nhat nha Tran-Hinh-3
 Nhạc công thời Trần (Khắc gỗ, chùa Thái Lạc – Hưng Yên, thế kỉ XIII-XIV). 

     

      Sau khi ám hại Hiến Từ, Dương Nhật
Lễ gấp rút triển khai việc thay đổi triều đại. Hoàng tộc họ Trần phản ứng vụng
về bằng cách để cho 18 người lẻn vào cung tìm cách hạ thủ Dương Nhật Lễ. Chuyện
không thành nhưng càng tạo thêm cớ cho Dương Nhật Lễ tiêu diệt họ Trần. Toàn bộ
triều đình nhà Trần chìm trong bầu không khí tang thương. Những người còn lại
trong tôn thất tìm cách chạy khỏi kinh thành, tập hợp lực lượng, chờ ngày báo
thù. Đất nước khi ấy sắp sửa rơi vào cuộc chiến tương tàn giữa hai phe họ Trần
và họ Dương.


      Vài tháng sau khi Hiến Từ bị giết chết, phe họ Trần đã giành
chiến thắng, lật đổ Dương Nhật Lễ và khôi phục lại cơ nghiệp nhà Trần. Hiến Từ
ở nơi chín suối, nếu có linh thiêng, chắc hẳn cũng sẽ thấy thanh thản phần nào.

 

 

<Theo kienthuc>

Similar Posts