‘Cần tôn vinh thế hệ đã hy sinh trong chiến tranh biên giới 1979’

“Đề cập cuộc chiến năm 1979 không phải để kích động hận thù mà là rút ra những bài học trách nhiệm với hoà bình. Một cuộc chiến chống xâm lược phải là niềm tự hào cần tôn vinh”, sử gia Dương Trung Quốc chia sẻ với VnExpress.

– Trước lúc tiến hành cuộc chiến, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố “dạy
cho Việt Nam một bài học”. Theo ông thực chất của việc phát động cuộc
chiến biên giới 1979 là gì ?

– Trước hết, tự thân lời tuyên bố của ông Đặng Tiểu Bình vào thời
điểm ấy cho thấy thái độ kẻ cả của một nước lớn với Việt Nam. Ông Đặng
không nói ra nội dung “bài học gì” nhưng theo tôi với một cuộc chiến
tranh thì cuối cùng, cả bên đánh lẫn bên đỡ, bên được hay bên thua…
đều rút ra được những bài học thích đáng.

Thời điểm Bắc Kinh phát động cuộc chiến, mục tiêu đầu tiên là cứu vãn
chế độ diệt chủng Pol Pot-Khmer Đỏ vừa bị đánh bật khỏi Phnom Penh và có
nguy cơ diệt vong ở Campuchia. Đây là kết quả cuộc chiến bảo vệ biên
giới Tây Nam của Việt Nam và giúp đỡ lực lượng yêu nước Campuchia chống
chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.

Mục tiêu tiếp theo của Trung Quốc là khẳng định với Mỹ không còn ràng
buộc gì với yếu tố hệ tư tưởng giữa các quốc gia từng là một khối liên
minh chống Mỹ và là đồng minh của Việt Nam trong cuộc chiến tranh mà Mỹ
vừa thất bại. Mục tiêu đó cũng phù hợp với chính sách của Mỹ là duy trì
cấm vận và thù địch mang “hội chứng Việt Nam”.

Nói cách khác, cuộc chiến này giúp tăng cường mối liên minh với Mỹ được
xác lập từ sau chuyến thăm Trung Quốc của tổng thống Mỹ Nixon khi chiến
tranh Việt Nam đang diễn ra (1972).

duongtrungquoc-1349875729-480x-2295-6286

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc một cuộc chiến tranh chống xâm
lược như chiến tranh biên giới 1979 cần tôn vinh công lao và sự hy sinh
của một thế hệ.  

Cuộc chiến tranh này cũng nhằm đối phó với mối quan hệ Việt-Xô được
tăng cường, trong bối cảnh căng thẳng Trung-Xô ngày càng tăng, đã xảy ra
xung đột vũ trang trên biên giới Trung-Xô. Nói cách khác, Trung Quốc đã
đảo chiều chiến lược từ chỗ là đồng minh với Liên Xô thành đồng minh
của Mỹ chống Liên Xô. Điều đó cũng gắn với mục tiêu cơ bản nhất là muốn
Việt Nam phải trở lại vòng ảnh hưởng luôn được giới lãnh đạo Trung Quốc
coi là mang tính “truyền thống”.

Và cũng không thể không nói đến ý đồ của Trung Quốc với Biển Đông mà
cuộc đánh chiếm Hoàng Sa đầu năm 1974 là bước thăm dò quan trọng, trong
đó có thái độ thoả hiệp của Mỹ.

– Vậy những bài học ấy đã được nhận thức như thế nào?

– 35 năm sau cuộc chiến tranh ấy, có rất nhiều bài học được rút ra
không phải theo cách tuyên truyền mà bằng thực tế những gì đã diễn ra và
chắc không chỉ có bài học với riêng Việt Nam.

Đầu tiên là bài học về hoà bình. Trong quá khứ, nếu cộng tất cả thời
gian diễn ra các cuộc động binh của phương Bắc đánh vào nước ta và những
cuộc kháng chiến của người Việt qua các triều đại, thì chiến tranh rất
ngắn so với thời gian duy trì quan hệ hoà hiếu giữa hai nước. Qua trải
nghiệm, ông cha ta đã tạo được bản lĩnh biết cách tồn tại cạnh một nước
Trung Hoa có nhiều thăng trầm và có sức mạnh bành trướng, cũng như nguồn
lực văn minh, để cùng một lúc vừa giữ được hoà hiếu vừa giữ được chủ
quyền.

Khi Trung Quốc động binh ào ạt đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc,
bài học rút ra là sự trưởng thành về nhận thức của người Việt Nam. Không
thể ảo tưởng rằng có những giá trị cao hơn tinh thần và lợi ích dân
tộc, đương nhiên không phải chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Thực tiễn cho
thấy Việt Nam vẫn đứng vững là một quốc gia độc lập, tự chủ và có chủ
quyền.

Sau đổi mới là tiến trình hội nhập sâu rộng với thế giới, trong đó có
việc xác lập quan hệ hợp tác ngày càng có hiệu quả với các quốc gia trên
thế giới. Quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia từng thù địch trong quá
khứ, đặc biệt là Pháp và Mỹ hay Hàn Quốc, Nhật Bản… là những bằng
chứng sống động về bài học rút ra từ các cuộc chiến tranh. Bài học rút
từ chiến tranh luôn là bài học để gìn giữ hoà bình.

Nhấn vào các mũi tên trên bản đồ để xem chi tiết diễn biến cuộc chiến năm 1979.

Với Trung Quốc, trong 35 năm qua chúng ta cũng chứng kiến những bước đi
dài và đầy khó khăn từ chỗ bình thường hoá đến việc xác lập quan hệ đối
tác chiến lược, toàn diện như ngày nay. Đó là cơ sở để chúng ta tiếp
tục phát triển mối quan hệ với nước láng giềng nhiều tiềm năng, đồng
thời giải quyết những vấn đề của quá khứ liên quan đến chủ quyền giữa
hai nước mà nổi cộm nhất là quần đảo Hoàng Sa và Biển Đông, cùng với
cộng đồng quốc tế. Không có môi trường hoà bình sẽ không bao giờ giải
quyết được những vấn đề của quá khứ. Cho dù biết trước là rất khó khăn
nhưng đó là cuộc đấu tranh kiên trì và không chỉ của riêng hai nước.

Việc Toà án quốc tế đang tiếp tục hoàn thành việc xét xử tập đoàn diệt
chủng Pol Pot như tội phạm chiến tranh; việc cố Quốc vương Norodom
Xihanuc hay những nhà lãnh đạo Campuchia đương đại xác nhận sự đóng góp
to lớn và quyết định, bằng xương máu của nhân dân Việt Nam trong việc
tiêu diệt Khmer Đỏ giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng là
bằng chứng thuyết phục để thế giới hiểu hơn về cuộc chiến tranh Trung
Quốc đã phát động  35 năm về trước.

Hành động của Trung Quốc thời kỳ đó đã khiến Việt Nam phải mất ngót một
thập kỷ mới giúp đỡ nhân dân Campuchia tiêu diệt được hoàn toàn Khmer
Đỏ. Người dân Việt Nam không chỉ hy sinh xương máu mà còn bị thế giới cô
lập vì tuyên truyền của Trung Quốc lên án Việt Nam xâm lăng Campuchia.

Trên bình diện quốc tế, những xung đột lợi ích của Trung Quốc với Mỹ
(đồng minh cách đây 35 năm), đòi hỏi quá đáng và không căn cứ của Trung
Quốc với chủ quyền nhiều nước khác trên biển, trong đó có Biển Đông, cho
thấy bài học quá khứ vẫn còn giá trị trong những nỗ lực phát triển mối
quan hệ hoà hiếu với “người láng giềng định mệnh” này. Người Việt Nam
vẫn phải thuộc bài học lớn nhất, mà tổ tiên qua bao thế hệ đúc kết, là
phải biết đoàn kết bên trong thì mới giữ vững chủ quyền và phát triển
đất nước, mới giữ được mối quan hệ hoà hiếu thực sự với thiên hạ bên
ngoài mà Trung Quốc luôn có một vị thế quan trọng.  

– Ông nghĩ sao về việc nhiều năm nay giai đoạn lịch sử này gần như biến mất khỏi chính sử, sách giáo khoa, giáo trình đại học?

– Hiện tượng nêu trên là có thật. Trong các bảo tàng lịch sử hiện đại,
khoảng trống này đôi khi đặt ra những câu hỏi rất đáng suy nghĩ của các
khách tham quan, nhất là các bạn trẻ. 

Tôi tin, trong công tác nghiên cứu, chiến tranh biên giới phía Bắc vẫn
được quan tâm vì quan hệ với Trung Quốc mãi mãi là một nhân tố rất quan
trọng. Những tài liệu lưu trữ hay hiện vật lịch sử có thể còn, nhưng
việc không được đưa vào giảng dạy, trưng bày và để cho các thế hệ biết
tới, theo tôi là sai lầm.

Vấn đề là cách trình bày, thông điệp của chúng ta khi đề cập tới những
sự kiện loại này không nhằm kích động hận thù mà là những bài học về
trách nhiệm với hoà bình. Nhân dân nước nào cũng ưa chuộng hoà bình. Ứng
xử của chúng ta với những giai đoạn lịch sử thời kháng chiến chống Pháp
hoặc chống Mỹ là những bằng chứng. Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở TP
HCM thu hút không chỉ khách trong nước mà cả khách nước ngoài và những
người từng ở bên kia chiến tuyến đến xem, mang lại hiệu ứng rất tích
cực. Tại sao Chiến tranh biên giới 1979 lại ngoại lệ? Một cuộc chiến
tranh chống xâm lược phải là niềm tự hào cần tôn vinh với công lao và sự
hy sinh của một thế hệ.  

Phải chăng ai đó vẫn viện vào cái phương châm “khép lại quá khứ để
hướng tới tương lai?”. Hiểu khép lại như thế nào là đúng mới quan trọng.
Chiến tranh là một hiện tượng mà nhiều dân tộc đã trải qua, phải đối
diện với những di sản của nó.

Giới sử học nhiều nước từng có chung mong muốn là làm sao sách giáo
khoa không che giấu sự thật về các cuộc chiến tranh trong quá khứ, đồng
thời không khoét sâu tâm lý thù địch giữa các dân tộc, quốc gia. Nói
cách khác là thái độ của chúng ta trước những hố sâu ngăn cách bởi những
cuộc chiến tranh trong quá khứ như thế nào. Khoét sâu thêm thù hận? Lấp
đầy bằng sự quên lãng? Cuối cùng, cách tốt nhất là trân trọng giữ lại
nguyên vẹn sự thật của quá khứ như những trải nghiệm đau thương và vượt
qua hố sâu đó bằng một cây cầu hữu nghị mà mỗi bên đều có trách nhiệm
xây đắp.

Nguyễn Hưng / VnExpress thực hiện

Similar Posts