Câu chuyện về lăng mộ cổ cùng ngôi đền được mọi đời vọng kính còn lắm những thú vị

Dễ đến mấy nghìn năm có lẻ, ở gò đất cao tụ khí làng Á Lữ, xã Đại Đồng (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã lưu giữ linh hài của ông nội vua Hùng, Thủy tổ nước Nam Kinh Dương Vương.

Đất
thiêng lập làng

     Từ cầu Hồ cứ men theo con đê nhỏ
ven dòng sông Đuống vài cây số sẽ thấy một gò đất cao um tùm cây cối. Truyền
rằng, đó là gò đất rồng gắn liền với vận số nước Nam, bởi mạch khí ấy hòa linh
cốt Nam Bang Thủy Tổ.


     Ông Lê Viết Nga, Giám đốc Bảo tàng
tỉnh Bắc Ninh rất ấn tượng với ngôi đền thờ và lăng mộ của Thủy tổ Kinh Dương
Vương. Ông Nga nói lại về sách Đại Việt sử ký toàn thư viết rõ về thời
kỳ này: “Vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương
Nam, đến núi Ngũ Lĩnh gặp một nàng tiên, lấy nhau, sau Đế Minh truyền ngôi lại
cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm vua phương
Nam, tự xưng là Kinh Dương Vương.


     Kinh Dương Vương làm vua năm Nhâm
Tuất (2879 TCN), lập nước lấy quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Ngũ Lĩnh (Hồng
Lĩnh – Hà Tĩnh ngày nay). Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân (còn có
tên là Thần Long) là Long Nữ, đẻ ra Sùng Lãm.


Bốn chữ Hán “Thủy Tổ Đài Môn” trên cổng đền thờ
Kinh Dương Vương.  


     Sau này Sùng Lãm kế vị, xưng là Lạc Long Quân. Lạc
Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, đẻ một lần
trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: “Ta là giống Rồng,
nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”.


     Vợ chồng từ biệt nhau, chia 50 con
theo mẹ về núi, 50 con theo cha về miền biển, phong cho con trưởng là Hùng
Vương, nối ngôi vua. Cứ theo truyền thuyết ấy, thì vua Hùng, là cháu nội Kinh
Dương Vương. Sinh thời, Kinh Dương Vương đi kinh lý khắp núi cao, rừng sâu,
biển xa nước Việt. Vương trông nom, gây dựng, mở mang, gìn giữ bờ cõi giang
san.


     Vương lấy đức mà cảm hóa dân. Trên
đường đi kinh lý, Ngài qua đất Phúc Khang (làng Á Lữ ngày nay) phát hiện ra thế
đất quý, có tứ linh: long, ly, quy, phượng, có sông núi bao quanh, rồng chầu,
hổ phục. Ngài đã đem những cư dân Việt cổ quy tụ về lập nên những xóm làng đầu
tiên.


 Ông Biện Xuân Phẩm và một sắc phong cổ ở đền thờ.


Bất Vong

    
Khi vua Kinh Dương Vương qua đời, thi hài được táng tại gò đất thiêng ven dòng sông
Đuống. Người dân lập miếu thờ để con cháu đời đời ghi nhớ. Bởi thế ngôi đền
Kinh Dương Vương tại thôn Á Lữ, thiết kế thờ cả tam vị Thánh Tổ.


     Ông Nga cho biết: “Hiện giới sử gia chưa xác định được
ngôi đền thờ tam vị Thánh Tổ có từ bao giờ, chỉ biết nó được trùng tu, tôn tạo
lại thời Lê – Trịnh. Sau đó, đến thời vua Gia Long, trùng tu lại đền Kinh Dương
Vương. Năm 1940, vua Bảo Đại tôn tạo hai đại tự”.


     Ông Biện Xuân Phẩm, Thủ nhang đền
thờ Thủy tổ Kinh Dương Vương cho biết, đến nay các nhà nghiên cứu đều có chung
nhận định lăng và đền thờ Kinh Dương Vương phải có từ rất lâu đời dựa vào những
dấu tích như những sắc phong, thần phả, câu đối, đồ thờ từ các triều đại.


Mâm Rồng cổ của đền. 


     Ông Phẩm cũng tiết lộ, hiện xã Đại Đồng còn lưu giữ 18
sắc phong, trong đó có hai sắc phong đời Trần và 16 sắc phong triều Nguyễn.
Ngoài ra, còn có một số đồ vật được các đời vua Nguyễn dâng lên tổ tiên như bát
đời vua Lê cùng mâm đồng cổ.


     Lăng và đền Thủy tổ Kinh Dương
Vương cách xa nhau chừng vài trăm mét. Đền ở bên trong đê, còn lăng ở ngoài đê
sông Đuống. Chưa ai rõ lăng được xây dựng thời nào nhưng còn bia đá ghi 4 chữ
nho: Kinh Dương Vương Lăng. Trên lăng còn 2 chữ Hán viết lối khải thư: Bất
Vong, tức không bao giờ mất.


     Người trông coi lăng mộ vua Thủy tổ
bây giờ là ông Biện Xuân Sam. Ông Sam bảo, dòng họ Biện ở địa phương cứ truyền
đời qua đời khác trông coi lăng mộ và đền thờ Thủy tổ. Trải qua bao nhiêu nghìn
năm, vùng gò đất cao ven dòng sông Đuống vẫn không bị bào mòn, đúng như 2 chữ
Hán viết trên lăng Thủy tổ.


     Năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết, về dâng hương tại đền, lăng Thủy tổ Kinh Dương Vương và để lại bút tích:
“Tôi nhiệt liệt hoan nghênh và trân trọng cám ơn nhân dân và lãnh đạo địa
phương đã giữ gìn, tôn tạo một di tích lịch sử, một trong những cội nguồn dân
tộc để đời đời con cháu mai sau chiêm ngưỡng, học tập”.


Chiếc bát thời vua Lê – chúa Trịnh dâng lễ tại đền. 


Đất có ba Thủy tổ

     Ông Lê Viết Nga, Giám đốc Bảo tàng
tỉnh Bắc Ninh bảo: “Có điều mà nhiều người không tinh nên không biết,
Thuận Thành chính là vùng đất hiếm của Việt Nam có ba Thủy tổ. Thứ nhất là vua
Thủy tổ Kinh Dương Vương; thứ hai là Thủy tổ sự học Sĩ Nhiếp; thứ ba là Tổ chùa
Phật giáo Việt Nam”.


     Trong câu chuyện với ông Nga, mỗi
Thủy tổ đều có những tích truyện ly kỳ. Nhưng có lẽ, những câu chuyện ở đền và
lăng Thủy tổ Kinh Dương Vương là thú vị và đậm đặc bản sắc Việt nhất.


     Trong đó có tục rước nước ở sông
Đuống về thờ. Phong tục này duy trì xuân thu nhị kỳ, tức là hai lần ở hai mùa
xuân – thu. Tuy cũng là rước nước nhưng không giống ở những nơi khác. Ngoài
nghi thức, quan niệm thì tục rước nước ở Đại Đồng còn có giai thoại.


     Rằng xưa kia cha Lạc Long Quân đem
49 người con xuống biển, còn người con cả ở lại phong vua xưng họ Hùng lập nhà
nước Văn Lang. Khi các con Lạc Long Quân làm nghề chài lưới, gặp sóng lớn và
thuyền bị đánh đắm, Lạc Long Quân đã hóa phép xuống Thủy phủ giúp các con siêu
thoát. Cha Lạc Long Quân dặn lại: Nếu ta không về, các con trên trần cần gì thì
đóng bè chuối ra khơi gọi cha về, cha sẽ cứu các con.


    
Theo ông Biện Xuân Phẩm, Thủ nhang đền thờ Kinh Dương Vương cho biết:
“Truyền thuyết đó có để lại một câu thần chú. Vì thế, khi đã ra khơi xin
nước, người chủ lễ sẽ phải đọc “Bô hô! bô hô!”, nghĩa là: Bố ơi, bố
ơi, bố về cứu chúng con”.

 


<Theo kienthuc>


Similar Posts