Chiến tranh bảo vệ biên giới 1979: Mỹ-Trung đã mặc cả những gì?

Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại chính trường vào năm 1978, giữa tháng đó ông ta đi thăm Mỹ, sau khi 2 nước vừa bình thường hóa quan hệ vào ngày 1-1-1979. Và đến tháng 2-1979 thì Trung Quốc tấn công xâm lược Việt Nam…
Những bức ảnh kỷ vật thời đó đã lên tiếng tố cáo âm mưu của họ với cả thế giới!

Trung Quốc khởi xướng chiến tranh xâm lược Việt Nam

…Đến giữa tháng 1-1979, hơn một phần tư quân đội thường trực
của Trung Quốc đã được đưa đến biên giới Trung-Việt, với tổng cộng
khoảng hơn 320.000 quân núp dưới danh nghĩa bộ đội địa phương, cùng với
khoảng 30 vạn dân binh và lực lượng hỗ trợ hậu cần.

Để thực hiện kế hoạch tác chiến theo kiểu “biển người” này, Trung
Quốc đã huy động tổng cộng tới 8 Quân đoàn và Tập đoàn quân tham gia tác
chiến trực tiếp, một Tập đoàn quân được sử dụng làm lực lượng dự bị
chiến lược, sẵn sàng chi viện cho các hướng.

Guồng máy khổng lồ hoạt động cho một cuộc xâm lược quy mô, núp dưới
cái tên khêu gợi sự thương cảm của cộng đồng quốc tế là “Chiến tranh
phản kích tự vệ” đã được chuẩn bị xong và sẵn sàng gieo tội ác xuống đất
nước láng giềng nhỏ bé và thân thiện.

Từ trước đến nay, mọi người thường chỉ bàn về nguyên nhân Trung Quốc
đánh Việt Nam là do Trung Quốc không đạt được mục đích chi phối đường
lối đối ngoại của Việt Nam, lo ngại Việt Nam tự lực tự cường lớn mạnh,
trở thành một quốc gia có ảnh hưởng bao trùm Đông Dương.

Hai nữa là Trung Quốc muốn ngăn chặn ảnh hưởng quá lớn của Liên Xô
với Việt Nam và Đông Nam Á, tránh bị vây ép từ 2 phía, đồng thời thử độ
bền vững của Hiệp ước hợp tác toàn diện mà Việt Nam và Liên Xô mới ký
năm 1978.

Quân Trung Quốc bắn pháo phản lực sang lãnh thổ Việt nam

Ngoài ra còn có những vấn đề khác như mâu thuẫn Việt Nam-Trung Quốc
trong vấn đề người Hoa, xuất phát từ việc Việt Nam cải tạo tư sản ở miền
Nam sau giải phóng và những khúc mắc không thể tháo gỡ về chủ quyền
biên giới-hải đảo những thập niên 70-80 của thế kỷ trước.

Ngày nay, với sức mạnh của truyền thông, hầu như ai trong số chúng ta
cũng đã nhận thức rất rõ những “cái mất” của Trung Quốc sau cuộc chiến
tranh xâm lược tháng 2 năm 1979, nhưng cơ bản vẫn còn mơ hồ về những
điều Bắc Kinh đạt được, hay nói cách khác, chỉ ra tính mục đích của họ
khi tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa này.

Ban đầu, ý định xâm lược Việt Nam của Đặng Tiểu Bình vấp phải sự phản
đối của phần lớn thành viên Quân ủy trung ương đảng Cộng sản Trung
Quốc, bởi tất cả đều nhận định Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA)
“không được chuẩn bị đầy đủ cho chiến tranh”.

Một số lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng hết sức hoài nghi,
cho rằng quyết định tấn công Việt Nam, “đổ các nguồn tài nguyên khan
hiếm trong giai đoạn hiện đại hóa mới cất bước vào một mục đích khác” là
hành động không hợp lý.

Một ổ hỏa lực của quân xâm lược Trung Quốc

Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc nói chung cho rằng PLA chưa phục
hồi sau Đại cách mạng văn hóa (1966-1976), kỷ luật lỏng lẻo, huấn luyện
yếu kém. Lần cuối cùng mà quân đội Trung Quốc “thực sự đánh trận” là
chiến tranh biên giới với Ấn Độ năm 1962.

Trong khi đó, quân đội Việt Nam được tôi luyện nhiều thập kỷ trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Do đó, có quan điểm lo sợ
rằng nếu thua trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam có thể khiến Bắc
Kinh bị “bẽ mặt” trong một thời gian rất dài.

Một mối lo ngại khác mà các nhà quyết sách Trung Quốc nêu ra là khả
năng quân đội hùng mạnh của Liên Xô sẽ can thiệp nếu PLA dám hành động
càn rỡ. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình vẫn quyết định tiến hành cuộc chiến
tranh xâm lược này. Vì sao?

Tại sao chúng ta lại phải đưa vấn đề “Đặng Tiểu Bình và cuộc chiến
quyền lực” vào phần mục đích của Trung Quốc khi tiến hành cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam năm 1979? Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân
chính.

Một là: Quyết định xâm lược của Trung Quốc xuất phát từ phần lớn các
quyết định cá nhân của Đặng Tiểu Bình, với mục đích thâu tóm quyền lực
lãnh tụ tối cao từ tay Hoa Quốc Phong – nhà lãnh đạo thuộc trường phái
thủ cựu, vẫn trung thành với lí luận của Mao Trạch Đông.

Hai là: Cuộc chiến năm 1979 gắn liền với tư tưởng cải cách mở cửa của
Đặng Tiểu Bình được sự giúp đỡ đắc lực của Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam là sự ngã giá của Bắc Kinh với Washington, đổi lấy 10 năm
Mỹ hỗ trợ Trung Quốc cải cách và phát triển lớn mạnh.

…tháng 10-1976, sau khi lãnh đạo xóa bỏ Cách mạng Văn hóa Trung Quốc,
Hoa Quốc Phong đã thâu tóm tất cả các chức vụ lãnh đạo cao nhất của
Trung Quốc là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc
(Chủ tịch Đảng), Thủ tướng Quốc vụ viện và Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Hoa Quốc Phong đã trở thành vị lãnh đạo Trung Quốc duy nhất cùng lúc
đảm nhận vị trí lãnh đạo tối cao của đảng, chính phủ và quân đội, kể từ
năm 1949 và nhận được sự ủng hộ của Chủ tịch nước-Phó Chủ tịch Quân ủy
Trung ương Diệp Kiếm Anh (nhân vật số 2) và Phó Chủ tịch Đảng Uông Đông
Hưng (nhân vật số 5).

Ông Hoa Quốc Phong chính là người đã đề xướng phương châm “kết thúc
đấu tranh giai cấp, chuyển dịch trọng điểm công tác sang kiến thiết kinh
tế” tại Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc lần 3 khóa XI (Tháng 12-1978),
mở đường cho cuộc cải cách kinh tế mà Đặng Tiểu Bình cũng đang ấp ủ.

Sau Đại hội ĐCSTQ lần thứ XI (năm 1977), Đặng Tiểu Bình mới được phục
chức (sau khi bị cách hết chức vụ vào đầu năm 1976) và chỉ là nhân vật
lãnh đạo số 3 của Trung Quốc (sau Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh) và
đang ấp ủ giấc mộng nắm quyền lãnh đạo để thay đổi Trung Quốc.

Lúc đó Đặng Tiểu Bình nắm giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Đảng, Phó Chủ
tịch Quân ủy Trung ương, Chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân
dân Toàn Quốc, Phó Thủ tướng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng
Nhân dân Trung Quốc.

Một trong những quyết định quan trọng đầu tiên của ông ta cũng được
công bố tại Hội nghị TW 3 là chuyển ưu tiên quốc gia của Trung Quốc sang
hiện đại hoá kinh tế và mở cửa ra thế giới bên ngoài, nhưng Đặng đi xa
hơn Hoa là muốn “Cải cách, mở cửa” mà trọng tâm là bắt tay với Mỹ.

Theo sách lược này, Hoa Kỳ được xem là tấm gương để học tập các ý
tưởng và công nghệ tiên tiến, đồng thời là tấm gương thích hợp nhất về
hiện đại hoá. Đặng tin rằng, nếu Bắc Kinh mở cửa với các nước khác nhưng
cự tuyệt Wasghington thì chính sách mới sẽ không có hiệu quả.

Do đó, muốn “Cải cách, mở cửa” có hiệu quả thì phải bắt tay với Mỹ, cắt đứt quan hệ với Khối Xã hội Chủ nghĩa.

Hoa Quốc Phong (trái) và Đặng Tiểu Bình năm 1987. (Ảnh: Nhân Dân Nhật Báo)

Tư tưởng của Đặng Tiểu Bình cũng đã khởi đầu cho việc Trung Quốc
quyết định chấm dứt Hiệp định Xô – Trung có thời hiệu 30 năm, về quan hệ
Liên minh, Hợp tác hữu nghị và giúp đỡ lẫn nhau, được ký vào ngày
14-2-1950, hết thời hiệu ngày 15-2-1979 và mở đường cho quá trình bình
thường hóa quan hệ Trung-Mỹ (chính thức vào tháng 1-1979).

Tuy nhiên, khi đó nhóm lãnh đạo cao nhất trong Trung ương ĐCSTQ của
Hoa Quốc Phong vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận của Mao Trạch
Đông. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra
không thông với đường lối chính trị và chính sách kinh tế của họ Đặng.

Trong bối cảnh có nhiều tư tưởng “chống đối”, nếu chỉ dựa vào chức vụ
của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà
phải cần đến một phương thức cực đoan để có thể quét sạch được mọi
chướng ngại của thế lực cực tả đối với “Cải cách, mở cửa”.

Trải qua 3 lần mất chức, thậm chí phải đi cải tạo, Đặng Tiểu Bình
hiểu rằng, muốn thực hiện giấc mộng lớn “Cải cách, mở cửa” thì phải xác
lập quyền lực tuyệt đối trong Đảng. Để xây dựng uy tín và thực quyền
phải thông qua quân đội, cách nhanh nhất là gây chiến tranh.

Để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống quân xâm lược ngày
17-2-1979, biết bao xương máu quân dân Việt Nam đã đổ xuống vì mưu đồ
của những nước lớn.

Việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam xuất phát từ ý đồ thâu tóm quyền
lực để thực hiện sách lược “Cải cách, mở cửa” của Đặng Tiểu Bình, đồng
thời cũng là lời tuyên cáo đoạn tuyệt với Khối xã hội chủ nghĩa của Bắc
Kinh, tạo lòng tin với người Mỹ để Washington trợ giúp trong quá trình
cải cách.

Ngày 10-5-2010, Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Đại học Quốc Phòng
Trung Quốc đã có bài phát biểu tại căn cứ Không quân Côn Minh – Vân Nam.
Bài phát biểu này cũng đã được một số tờ báo của Việt Nam trích dẫn
đoạn nói lên những nhược điểm của Trung Quốc.

Thế nhưng, trong bài nói chuyện này, tướng Lưu có nhấn mạnh rằng, đối
với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979 (Trung Quốc gọi là
“Chiến tranh phản kích tự vệ”), ngay cả nhiều cán bộ cao cấp trong và
ngoài quân đội của nước này cũng chưa nhận thức được hết ý nghĩa to lớn
của cuộc chiến đó.

Mở đầu đoạn nói về chiến tranh Trung-Việt 17-2-1979, ông Lưu phát
biểu: “…khi ấy có người nói rằng, chúng ta đánh nhau với người Việt Nam,
những người hy sinh hiện nay được coi là liệt sĩ, sau khi quan hệ hai
nước trở lại tốt đẹp, họ sẽ là gì? Tôi trả lời: “Vẫn là liệt sĩ!”.

Viên tướng Trung Quốc cho rằng, việc nước này tiến hành chiến tranh
xâm lược năm 1979 phải nhìn nhận từ góc độ chính trị, bởi ý nghĩa nó nằm
bên ngoài cuộc chiến. “Cuộc chiến này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là
đánh để hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là người Mỹ”
– tướng Lưu nhận định.

Sau khi Đặng Tiểu Bình trở lại chính trường vào năm 1978, giữa tháng
đó ông ta đi thăm Mỹ, sau khi 2 nước vừa bình thường hóa quan hệ vào
ngày 1-1-1979. Và đến tháng 2-1979 thì Trung Quốc tấn công xâm lược Việt
Nam. Đối với Đặng Tiểu Bình, cuộc chiến với Việt Nam phải nổ ra.

Đặng Tiểu Bình bên cạnh Tổng thống Mỹ Jimmy Carter trong chuyến thăm Washington năm 1979

Lí do thứ nhất là Đặng Tiểu Bình cần thâu tóm quyền lực tuyệt đối để
thuận lợi tiến hành “Cải cách, mở cửa” nên phải nắm quân đội thông qua
một cuộc chiến tranh với nước ngoài được tuyên truyền rầm rộ với vai trò
“chính nghĩa” thuộc về Trung Quốc.

Lí do thứ 2 là Đặng Tiểu Bình muốn vạch rõ ranh giới với khối Xã hội
Chủ nghĩa để “bày tỏ gan ruột” với Tổng thống Mỹ Jimmy Carter – người
vốn không tin Trung Quốc có thể làm gì trước Liên Xô, khiến Mỹ thực sự
tin tưởng và giúp đỡ Trung Quốc “Cải cách, mở cửa”.

Tướng Lưu Á Châu nhận định rằng, Đặng Tiểu Bình gây ra cuộc chiến
tranh này chính là vì người Mỹ, để trả hận cho người Mỹ, mà bằng chứng
là ngày hôm trước rời Nhà Trắng thì ngày hôm sau, Đặng Tiểu Bình ra
quyết định bắt đầu xâm lược Việt Nam.

Ông ta cũng phân tích rằng, thực không phải Trung Quốc đánh Việt Nam
vì Mỹ, mà là vì chính bản thân mình, vì công cuộc “Cải cách, mở cửa”
đang bắt đầu triển khai. Trung Quốc không thể thực hiện được sách lược
này mà không có viện trợ của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ.

Sau cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bề ngoài các nước phương Tây
bao vây, cô lập Trung Quốc về ngoại giao nhưng bên trong, Washington
ngấm ngầm ồ ạt viện trợ kinh tế, kỹ thuật, khoa học kỹ thuật và cả viện
trợ quân sự, tiền vốn cho Trung Quốc phát triển.

Tướng Lưu khẳng định, dù “Tuần trăng mật” giữa hai nước chỉ kéo dài
trong một thập niên (sau sự kiện Trung Quốc đàn áp học sinh, sinh viên
biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 4-6-1989) là tan vỡ, nhưng
Trung Quốc đã hưởng lợi rất nhiều.

Đặng Tiểu Bình gặp Tổng thống Mỹ Jimmy Carter và cựu Tổng thống Nixon

“Cuộc chiến tranh Vệt Nam đã đem lại cho chúng ta những gì? Đó là một
lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung
Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây thực sự là một thành
công vĩ đại.” – ông Lưu Á Châu nhận định.

Viên tướng này còn cho rằng, ý nghĩa to lớn nhất của cuộc chiến xâm
lược Việt Nam là ở chỗ, nó là yếu tố quyết định thắng lợi của “Cải cách,
mở cửa” ở Trung Quốc!

Kết luận:

Như vậy có thể nhận thấy rằng, Trung Quốc xâm lược Việt Nam là một âm
mưu lớn, đước chuẩn bị kỹ càng, nhằm thỏa mãn tư tưởng nước lớn, khát
vọng bá quyền và phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc của họ, bất chấp
trước đó 2 nước là anh em, đồng chí cùng ý thức hệ.

Máu xương của quân dân Việt Nam đã phải đổ xuống vì những cái bắt
tay, những âm mưu móc ngoặc chống phá nhau của các nước lớn. Cùng với sự
kiện Hoàng Sa, đây chính là bài học lớn nhất, có giá trị xuyên suốt
chiều dài lịch sử về giữ vững đường lối độc lập, tự chủ trong bảo vệ tổ
quốc của dân tộc ta.

Nguồn: baodatviet.vn

Similar Posts