“Đất nước” – Một dấu mốc đổi mới trong sáng tác của Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ kháng chiến

Từ trước tới nay, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến những nét riêng của thơ Xuân Diệu. Nhà phê bình Hoài Thanh đã nói “Xuân Diệu mới nhất trong những nhà thơ mới”. Nhưng tôi cho rằng có một phong cách mới như thơ Xuân Diệu còn nhiều điều cần khám phá. Để làm sáng tỏ điều này tôi đã thử tìm lại bài thơ “Đất Nước”, Xuân Diệu viết năm 1955, khi là một cán bộ trong Đội cải cách ruộng đất ở Nghệ An… Có thể coi đây là một dấu mốc về sự đổi mới trong sáng tác của Xuân Diệu nói riêng và văn nghệ sĩ kháng chiến nói chung.


          Từ trái qua:
Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Nguyễn Đỗ Cung, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng – 5
văn nghệ sĩ là Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ ba, ở Chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh tư liệu st).


Với cái nhìn mới của một thi sĩ
lãng mạn, Xuân Diệu đã tìm một tình yêu thuần túy, là lời của một cán bộ cải
cách ruộng đất. Ông đã nhìn ra có một đất nước tươi đẹp là do thành quả lao động
cần cù của những người nông dân Việt Nam nói chung và người dân Nghệ An
nói riêng:

“Bước nông dân phát động dẫm trên đường

Xã Cát Văn một mảnh đất Thanh Chương

Mà tôi thấy cả quê hương nước Việt.”

Xuân Diệu hòa mình cùng đời thực của
người nông dân Việt Nam,
ông đã ba cùng với người nông dân, cùng ở, cùng làm, cùng ăn với họ:

“Làng quê kia trước tôi nhìn lạnh nhạt

Khách thị thành vênh váo tạt vài hôm

Từ khi làm cán bộ đội về thôi

Làng quê ấy tôi chăm lo khuya sớm

Móc đất, đắp bờ, lội bùn bì bõm

Cơm khoai sê bát, giường nát chung nằm

Đèn hắt hiu khêu gợi uất ngàn năm,

Đêm tố khổ chẳng ai cầm nước mắt”

Xuân Diệu thấy người nông dân ngàn
năm nay khổ cực, bất công nhưng luôn chung thủy với đất đai và bây giờ họ được
đánh thức. Cuộc đấu tranh với giai cấp địa chủ phong kiến, sức mạnh mới làm chủ
đất đai. Làm chủ số phận, làm chủ đất nước.

Tôi bỗng nghĩ tới câu nói của
Ăng-ghen: “Đối với người nông dân mảnh đất con nối dài mở rộng đó là bài
ca khải hoàn, giai cấp nào nắm được điều đó tất sẽ là người chiến thắng”.

Người nông dân say mê với việc được
đổi đời mà những người tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng lại chính là
những cán bộ trong đội cải cách ruộng đất, ở đây chính là nhà thơ tình Xuân Diệu.
Ông khẳng định:

“Hai tháng đổi đời, long trời lở đất

Bạn cố bần vùng dậy tựa vừng đông

Tôi với nông dân đấu cật chung lòng

Chung câu hò tiếng hát lời mong

Tôi suy nghĩ, tuyên truyền, động viên, xếp đặt

Như tôi đã đổ mồ hôi sôi nước mắt

Ướt xuống đồng rơi vào đất Cát Văn”

Hiểu đất nước, nhìn ra sức mạnh của
người nông dân, thi sĩ đã chuyển cái nhìn lãng mạn của giai cấp tiểu tư sản là những
nỗi buồn thê lương sang hiện thực cách mạng, thấy được tầm vóc lớn của gia cấp
nông dân, những người vừa đi qua cuộc kháng chiến mười năm, xóa bỏ đế quốc thực
dân phong kiến sang chế độ mới.

“Ngàn năm Tổ quốc quê hương

Là hòn đất trộn với xương máu mình”

Từ một thi sĩ “mơ theo trăng
và vơ vẩn cùng mây”, ông đã nhìn đất nước theo một tầm cao mới, làm cách mạng
phản phong lật đổi chế độ phong kiến.

Khác với một số người cùng thời, họ
nhìn người nông dân là những kẻ bần cùng dưới đáy xã hội. Phùng Quán có câu:

“Tôi đã đi qua những làng chiến tranh vừa chấm dứt

Tôi đã gặp những bà mẹ già quấn giẻ rách

Da đen như củi cháy giữa rừng

Kéo dây thép gai tay chảy máu dòng

Bới đồn giặc để trồng ngô, trỉa lúa

                             Nhà thơ Xuân Diệu thời trẻ. (Ảnh tư liệu st).


Ta thấy Xuân Diệu nhận rõ đất nước
mình có nhiều giai cấp, ông đã mang ánh sáng của Đảng, của giai cấp công nhân
truyền vào cho những người nông dân. Cuộc Cách mạng phản phong này chỉ có 2
tháng đã mang lại sự đổi đời cho nông dân. Xuân Diệu nhìn một giọt nước mà như
thấy cả biển lớn mênh mông:

“Thiết tha nhìn dòng sông chảy xanh êm

Và ánh đẹp chiều vàng trên ruộng lúa”.

Xuân Diệu đã xem cuộc cải cách ở một
xã và ông đã hiểu sức mạnh vùng lên của người nông dân trên toàn miền Bắc:

“Cuộc phát động đã xe dây ràng buộc

Tâm hồn tôi liền chặt với nong sông

Thấy nông dân, tôi hiểu bước thành đồng

Sâu một xã tôi thấu toàn Tổ quốc”

Chính điều này, tác giả đã nhìn thấy
sự chuẩn bị cho nông dân đi lên hợp tác xã và CNXH, tạo ra sức mạnh sản xuất mới
và quan hệ sản xuất mới. Ngôn ngữ thơ ào ạt, gấp gáp, sôi động đi lên cùng khí
thế của nông dân. Và nhân thức của tác giả cũng khác, ông ví dòng sông như
thành quả lao động của người nông dân:

“Quay bốn phía chỉ một màu đất nước

Thoang thoảng hương cau lồng phía trước

Dập dờn lá mít ánh đằng sau.

Xuân Diệu nhìn thấy trước những mùa
vàng bội thu, đó là điểm báo sự ấm no, chứ không phải màu vàng lạnh của ánh
trăng. Thơ đi liền một mạch, hơi thở gấp gáp, bằng ngôn ngữ đời thường và tính
khẩn trương như một cuộc chiến đấu, bởi vì tác giả đã hòa mình vào với cuộc sống
của người nông dân:

“Xong buổi chòm, mệt người ngây ngất

Tiếng hô rần rật Đại hội Nông dân.”

Ta cảm giác như một mũi tên lao về
phía trước, câu thơ không có độ lùi nhưng nó ngân nga. Đây là cái mới trong thơ
Xuân Diệu.

Nguyễn Đình Thi cũng miêu tả thiên
nhiên nhưng có một độ lùi. Nguyễn Đình Thi lùi lại nhìn đất nước một cách bùi
ngùi. Đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi là thơi kỳ Cách mạng phản đế. Ông chau
chuốt từng lời từng chữ khi nói về đất nước:

Nguyễn Đình Thi viết về người nông
dân khác với cái nhìn của Xuân Diệu:

“Bát cơm chan đầy nước mắt

Bay còn giằng khỏi miệng ta

Thằng giặc tây, thằng chúa đất

Đứa đè đầu, đứa lột da.”

Nguyễn Đình Thi có một chút hồi tưởng
là đất nước của ông cha trước kia chiến đấu, mơ tới một tương lai viễn tưởng
sau đánh Pháp. Ông chỉ thấy sức mạnh của người nông dân khi chiến đấu, chưa thấy
được sức mạnh của người nông dân trong cuộc cách mạng phản phong là tự giải
phóng mình, là người cày có ruộng, làm chủ mảnh đất nghìn đời nay.

        (Từ trái sang
phải): Ngô Tất Tố, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn
Huy Tưởng, Nguyễn Tuân – những văn nghệ sĩ hàng đầu của Văn học Cách mạng trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh tư liệu st).


Đất nước sau hòa bình có một khoàng
dài mà thơ Chế Lan Viên có độ chau chuốt. Đây là sự phát triển hồi tưởng của mười
năm trong kháng chiến của những người lính chiến:

“Ơi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa

Nghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.”

Còn Xuân Diệu không hồi trưởng mà
nhìn thẳng vào thực tế. Thơ Xuân Diệu cũng như quan niệm của ông vào chốn tình
yêu nghệ thuật. Cái tôi đầy ắp của người con sinh ra ở Bình Định, thủ phủ của
vương quốc Chăm rực rỡ và đổ vỡ, không có thời kỳ suy tàn nên đã ảnh hưởng vào
tư tưởng của Xuân Diệu. Ông chối bỏ tất cả mà nhìn đất nước con người bằng sự
đi lên thiết thực, giản dị gắn bó với nông dân.

Đất nước trong thơ Tố Hữu cũng hối
hả như những bước hành quân. Ông có mốc đi, có nơi xuất phát, đó là bước đường
chiến lược của đất nước (Chào 61 đỉnh cao muôn trượng). Còn với Xuân Diệu mốc
thời gian chỉ hai tháng – rất cụ thể, cuộc đấu tranh này không có vũ khí, và những
người nông dân bằng nhận thức mới, ngôn ngữ mới, mở ra một thứ ngôn ngữ thơ rất
đời thường, thơ mà như nói, tạo điều kiện cho những nhà thơ thoát ra khỏi ảnh
hưởng cũ, bước vào tháp ngà thơ mới, rời xa nỗi buồn hiu quạnh hắt hiu của thơ
tiền chiến. Tác giả tuyên ngôn:

Tôi với nông dân đấu cật chung lòng

Chung câu hò tiếng thét lời mong

Tôi suy nghĩ tuyên truyền, động viên sắp xếp

Như tôi đã đổ mồ hôi sôi nước mắt…”

Sau này, trong bài thơ “Đất nước” của
Nguyễn Khoa Điềm cũng chưa nói về địa danh cụ thể, phong tục tập quán rất chung
chung, chưa có cảm nhận về giai cấp như của Xuân Diệu. Đất nước trong thơ của
Nguyễn Khoa Điềm là cái có tự ngàn xửa ngàn xưa:

Khi ta lớn lên, đất nước đã có rồi

Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Do đó tôi nhận thấy, Xuân Diệu làm
bài thơ đất nước, sự thật là một nhật ký bằng thơ trong hai tháng khẩn trương vất
vả, Xuân Diệu đã quên mình là một thi sỹ, quên mình là một cán bộ văn học nghệ
thuật, lần đầu tiên trong cuộc đời chỉ có 2 tháng thôi, Xuân Diệu đã làm một
người khác – người nông dân bần cố, mang cảm nghĩ chất phác chân thành và hạnh
phúc vỡ òa của người nông dân đột ngột được làm chủ ruộng đồng. Nó là cái mốc để
từ đây người nông dân lao động miền Bắc tìm ra một hướng mới cho đồng đất phù
sa của quê hương.

Mạch cảm nghĩ bài thơ gấp gáp đi
theo đường thẳng, cả bài thơ như một đạo quân lao vào cuộc đấu tranh nên ngôn
ngữ thơ có vẻ như một báo cáo, một cuộc vận động, tác giả đã khẳng định nông
dân là bức thành đồng. Hình như tác giả viết liền một mạch. Bài thơ không có
chình sửa, viết về bằng tâm trạng đan xen cùng hiện thực. Đọc xong bài thơ, tôi
cảm thấy nhà thơ như đứng lùi lại phía sau để cho nhà lãnh đạo cải cách bộc lộ
quan điểm của mình với nhân dân, đất nước. Đọc bài thơ ta thấy đầy khí thế chiến
thắng xông lên. 60 năm qua chúng ta nhìn trở lại, tự hỏi mình: Vì sao con cháu
của những người nông dân đã tự giải phóng bản thân mình ra khỏi ách Đế quốc và
Phong kiến lại lặng lẽ bỏ ruộng vườn, bỏ cây lúa, quê hương đến xứ người?

Bài thơ có tuổi 60 năm để lại cho
chúng ta một câu hỏi lớn: Tương lai của đất nước cách đây 60 năm một phần không
nhỏ đặt lên vai người nông dân, họ đã hoàn thành nhiệm vụ, bây giờ đến thế hệ
chúng ta phải làm gì cho nông thôn Việt Nam, đất nước Việt Nam đáp ứng được
lòng mong mỏi của nhà thơ: Không còn có tiếng thở dài, không bị những giọt nước
mắt che lấp và cái nhìn trong sáng của nông dân vào đất nước ngày mai.

Phải chăng trách nhiệm xây dựng
nông thôn mới là bước tiếp theo của niềm tin với nông dân Việt Nam, mà nhà thơ
để lại. Hơn nữa, những nhà thơ bây giờ vẫn phải ba cùng với người nông dân, mới
nói lên được sự khát khao của nông dân, có như vậy đất nước với phát triển tốt
đẹp được.

 

                       Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2016
                                                Đặng Thị Ngọc Vân

(Tham luận đọc tại Hội thảo khoa học
“Xuân Diệu với Văn hóa dân tộc”)

Similar Posts