Đế chế Hittite: Hoàng kim, sụp đổ và biến mất

Mặc dù đế quốc Hittite biến mất hàng ngàn năm trước, nhưng không có nghĩa là nó đã bị lãng quên. Thành phố cổ Hattusha (thành phố thủ đô của đế chế Hittite đã từng tồn tại và phát triển rực rỡ) đã được tuyên bố là di sản thế giới của UNESCO.

       Hattusa ngày nay nằm ở phía Bắc thủ đô Ankara, thuộc đất nước
Thổ Nhĩ Kỳ. Hiện còn rất nhiều những thành phố của nước Thổ có tên xuất
phát từ những cái tên cổ của người Hittite, như là Sinop hay Adana. Và
tại tòa nhà Liên Hợp Quốc ở New York, người ta có treo một bản đá với
chữ hình nêm sao chép lại hiệp ước hòa bình được người Hattite ký kết
sau trận chiến Kadesh…



       Người Hittite là tộc dân sống ở vùng Anatolia (Tiểu Á) cổ đại, họ sử
dụng thứ ngôn ngữ Ấn – Âu và thành lập một vương quốc lấy trung tâm tại
Hattusa) ở miền Trung Bắc Anatolia. Thủ phủ Hattusa được bao quanh bởi
sông Halys (người Hittite gọi là  Marassantiya). Cái tên Haltic được sử
dụng bởi những người vùng Tiểu Á để phân biệt ngôn ngữ này với ngôn ngữ
Ấn – Âu Hittite đã có mặt tại đây từ trước và trở thành ngôn ngữ chính
trong 6 – 7  thế kỷ tiếp theo.



       Thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của người Hittite vào khoảng thế
kỷ 14 TCN, với phần lãnh thổ rộng khắp gồm phần lớn Anatolia, Tây Bắc
Syria, phía trên vùng Mesopotamia. Ngôn ngữ Hattusa đã được giải mã bởi
một nhà ngôn ngữ Czech, Bedrich Hrozny (1879-1952). Ông đã công bố kết
quả của mình trong một bài giảng tại Hội Đông gần Berlin.




Cổng Sư tử, đế chế Hittite ngày nay.




Một vương triều ba giai đoạn




       Cuốn sách của ông về việc khám phá được in  tại Leipzig vào năm 1917,
dưới tựa đề Ngôn ngữ của dân Hê-tít. Trong ngôn ngữ Hittite có nhiều từ
vay mượn, đặc biệt từ vựng trong tôn giáo từ Hurrian và Hattic ngôn ngữ
phi Ấn – Âu. Tiếp theo là có sự pha trộn thổ ngữ địa phương trước khi
người Hittite cai trị vùng đất này.



       Những gì còn lại của đế chế Hittite ở thủ phủ Hattusha được bảo tồn
khá tốt. Đền thờ, dinh thự hoàng gia, công sự, các đồ trang trí và những
trụ đá chạm khắc phù điêu… giúp các nhà nghiên cứu hình dung ra một đế
chế hùng mạnh đã ảnh hưởng tới một khu vực rộng lớn kéo dài từ Anatolia
đến miền Bắc Syria trong suốt khoảng 200 năm. Có ba thời kỳ phát triển
hình thành nên đế chế Hittite là thời Cổ Vương quốc (1750-1500 TCN),
Trung Vương quốc (1500 – 1430 TCN) và thời kỳ Tân Vương quốc (1430 –
1180TCN).



       Thời Cổ Vương quốc. Được mở đầu bằng việc truất phế vua Anitta của
nước láng giềng Kussara vào năm 1700 TCN. Thành phố Hattusa cổ đại đã
đánh lui các cuộc tấn công của Sargon Đại đế, Naram Sin Đại đế và thành
phố đã trải qua một trận hỏa hoạn. Không lâu sau trận hỏa hoạn, thành
phố đã được xây dựng lại nhờ vua Hattuasili I, nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng thành phố Hattusa cổ đại đã được đặt tên theo tên vị vua đã xây
dựng lên.



       Sau đó Hattuasili I cùng với con trai và anh em của mình tấn công và
chiếm đoạt những lãnh thổ khác bằng vũ lực. Những người con của
Hattuasili I chiếm giữ và cai quản một thành phố. Nhưng khi các vùng đất
mới phát triển thịnh vượng, những người này đã nổi dậy chống lại chính
cha của mình. Cuối cùng, Hattusili I chọn cháu trai của mình, Mursilli
là người thừa kế. Chính Mursilli là người nổi tiếng với sự tàn phá
Aleppo và Babylon nhưng đã không cai trị được và để người Kassite nổi
lên và chiếm giữ suốt 400 năm.



       Thời kỳ Trung Vương quốc. Vua Telipinus được coi là vị vua cuối cùng
của Cổ Vương quốc, cái chết của ông là sự khởi đầu của giai đoạn kéo dài
tạo nên đế quốc Hittite. Các thành phố mà Telipinus bị buộc phải từ bỏ
đã rơi vào tay Hanigalbat, sau đó họ lại đầu hàng người Ai Cập. 
Thutmose III (trị vì 1479-1426 BC) tiến hành nhiều cuộc chinh phục với
sự trợ giúp của người Ai Cập.



       Dưới triều đại của Suppilulima I, các vương quốc Mittani và vùng
Levant màu mỡ, các thành phố cảng Byblos đã trở thành một phần của đế
chế Hittite. Suppiluliuma I cuối cùng đã chết trong trận dịch năm 1322
TCN, người ta cho rằng những nô lệ Ai Cập do ông bắt về trong những
chuyến đi chinh phục đã mang theo bệnh dịch hạch. Thời kỳ Tân Vương
quốc. Tân Vương quốc thực sự bắt đầu với sự trị vì của Suppiluliuma I.
Vua Suppiluliuma I nắm giữ lịch sử của Trung Đông trong thế kỷ 14 TCN.
Những nhà nghiên cứu cho rằng ông lên ngôi vào khoảng năm 1380 và đã trị
vì trong khoảng bốn thập kỷ.




Một phần di tích Hittite còn lại.



       Trong những năm đầu của triều đại của mình, Suppiluliuma I đã hợp
nhất quê hương Hittite và tăng cường khả năng phòng thủ của Hattusa. Các
bức tường thành phố mở rộng rất nhiều đã được xây dựng, bao quanh một
diện tích hơn 120 ha. Đế chế Hittite bắt đầu mở rộng về phía Đông và hầu
hết các thành phố Bắc Syria.



       Trải qua nhiều vương triều, tới thời đại của vua Muwatalli II
(1295-1272 TCN) nổi tiếng nhất bởi trận chiến Kadesh với Pharaoh Ramses.
Sau đó Muwatalli II đã ký kết bản hiệp định hòa bình giữa Hittite và Ai
Cập, đây được coi là bản hiệp ước hòa bình cổ xưa nhất trong lịch sử
nhân loại.



Phát triển rực rỡ




       Mặc dù thuộc thời kì đồ đồng nhưng người Hittite là những người đầu
tiên phát triển việc sản xuất sắt. Những phát hiện khảo cổ học mới đây
cho thấy bằng chứng về đồ sắt đã xuất hiện từ thế kỷ 20 TCN. Dấu vết của
luyện kim được tìm thấy trong thành phố cổ Hattusas.



       Ở thời kỳ này, vũ khí của người Hittite chủ yếu làm bằng đồng còn vũ
khí bằng sắt rất hiếm, quý giá và được coi như một công cụ để trao đổi
hàng hóa. Những chiến binh Hittite còn nổi tiếng trong việc chế tạo và
sử dụng chiến xa. Những chiến xa của họ được minh họa lại trên những tấm
kim loại được tìm thấy ở Carchemish.



       Học giả người Pháp Félix Marie Charles Texier phát hiện ra tàn tích
Hittite đầu tiên vào năm 1834, nhưng đã không nhận ra chúng là của thời
kỳ Hittite. Các bằng chứng khảo cổ học đầu tiên cho người Hittites tìm
thấy tại các thuộc địa của Assyrian Kultepe.



       Tôn giáo của người Hittite là một sự hòa trộn. Nó kết hợp các yếu tố
phổ biến của bản địa vùng Anatolia với một số ảnh hưởng bên ngoài chủ
yếu của Hurrianorigin. Những ảnh hưởng này được thể hiện rõ nhất trong
các ngôi đền đá cắt của Yazilikaya. Năm 1887, cuộc khai quật tại Tell
El-Amarna ở Ai Cập phát hiện ra các thư tín ngoại giao của Pharaoh
Amenhotep III và con trai Akhenaton. Trong một cuộc khai quật tại
Hattusa bắt đầu từ năm 1906, nhà khảo cổ học Hugo Winckler đã tìm thấy
một kho lưu trữ hoàng gia với 10.000 bảng đá, ghi bằng chữ hình nêm
Akkad và cùng ngôn ngữ không rõ là các chữ Ai Cập.




Nghệ thuật chạm khắc Hittite.



       Người Hittite thường xây dựng các đền thờ thần Bão tố và vợ của mình
là các nữ thần đất, đây là một bằng chứng cho thấy một xã hội mẫu hệ
sớm. Thần Bão tố được coi là vị chúa tể của những vùng đất Hatti và là
người đứng đầu trong số các vị thần. Ông là vị thần chiến đấu và chiến
thắng các cuộc xâm lăng.



       Nền kinh tế Hittite dựa vào nông nghiệp. Các cây trồng chính là lúa
mì và lúa mạch. Phải mất ít nhất 22.000 ha đất canh tác để đáp ứng nhu
cầu hàng năm của Hattusas. Chăn nuôi trong nước bao gồm gia súc, cừu,
dê, lợn. Hittite thịnh vượng chủ yếu phụ thuộc vào sự kiểm soát các
tuyến đường thương mại và nguồn kim loại. Họ hiểu rõ tầm quan trọng của
miền Bắc Syria là nơi các tuyến đường quan trọng nối liền các cửa
Cilician với Mesopotamia.



       Nhà vua là người cai trị tối cao, chỉ huy quân sự, cơ quan tư pháp.
Xung quanh ông là một tầng lớp các quý tộc và chức sắc, thường là có
quan hệ gia đình. Nhà vua chia các thành phố quan trọng cho các thành
viên trong gia đình cai trị. Trong nhiều thế kỷ sau, nguyên tắc này đã
được mở rộng ra đến cả chư hầu bản xứ, những người đã trở thành thành
viên của gia đình nhà vua.



       Một đặc điểm đáng chú ý của đế chế Hittite là vai trò của phụ nữ, đặc
biệt là các nữ hoàng. Pudupepa, vợ của Hattusilis III, thường xuyên kết
hợp với chồng trong các điều ước và các văn bản của nhà nước. Các bộ
sưu tập khoảng 200 luật Hittite, tuân luật pháp của thời kỳ khác nhau
cho thấy một sự phát triển liên tục hướng tới hình phạt nhẹ hơn và nhân
đạo hơn. Từ những văn bản cổ còn sót lại cho thấy hỏa táng là phổ biến ở
miền trung Anatolia. Những ngôi mộ tùy táng chỉ dành cho các vị vua
Hittite. Những người dân thường chỉ được phép chôn hoặc hỏa táng.



       Nội chiến và sự tranh giành ngai vàng, cùng với các mối đe dọa từ bên
ngoài đã làm suy yếu Hittite. Tudhaliya IV là vị vua Hittite mạnh mẽ
cuối cùng chống lại sự xâm lấn của người Assyria, ông đã có nhiều trận
hải chiến chống lại Alashiya ngoài khơi bờ biển đảo Síp. Nhưng cuối cùng
thì Hattusa cũng chìm trong biển lửa trước sự tấn công của Kaskas,
Phrygia và Bryges – những kẻ xâm lược.



       Mặc dù đế chế Hittite biến mất trên bản đồ Anatolia vào thời điểm này
(1160 TCN), nhưng đã xuất hiện một số các tiểu vương quốc gọi là
Neo-Hittite. Những tiểu vương quốc này nằm rải rác ở Anatolia và miền
Bắc Syria và trở thành các chư hầu dưới quyền kiểm soát của người
Assyria dưới triều đại của vua Sargon II.







<Theo CAND>

Similar Posts