Hai bức thư cảm động của bộ đội Thành cổ Quảng Trị

Cả hai bức thư với những dòng chữ đã nhạt nhòa vẫn còn lưu giữ cẩn thận tại bảo tàng Thành cổ khiến biết bao người rơi nước mắt. Nhưng vẫn còn đó, dưới nấm mồ chung Thành cổ biết bao chiến sĩ đã hi sinh, biết bao lá thư, những câu chuyện cảm động khác chưa được phát hiện.

Bức thư được anh Huỳnh viết và gửi cho một người bạn trước khi đi làm nhiệm vụ.

3d

Hàng nghìn du khách, cựu chiến binh hàng ngày vẫn đến Thành cổ Quảng Trị để nghe về câu chuyện từ hai bức thư đầy cảm động

“Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền
đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm
bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau
giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây lá xanh rụng xuống
trời ơi hỡi trời…”.

Bức thư dự cảm trước khi hy sinh

Giọng “trọ trẹ” của cô hướng dẫn viên Minh Nguyệt (ở Thành cổ Quảng
Trị) bắt đầu với lá thư thứ nhất khiến mọi người trong đoàn bắt đầu sụt
sịt, khóe mắt đỏ hoe. Đó là bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, sinh viên
năm thứ 4, khoa Cầu hầm, Đại học Bách khoa Hà Nội đã tình nguyện xếp bút
nghiên nhập ngũ vào chiến trường Quảng Trị khi vừa cưới chị Đặng Thị
Xơ, người con gái Thái Bình được 6 ngày. Anh đã hi sinh ngày 2/1/1973
khi đang làm nhiệm vụ. Bức thư đầy cảm động đó được anh viết vào ngày
11/9/1972.

“Quảng Trị 11/9/1972. Toàn thể gia đình kính thương!… Con ngồi đây
biên vài dòng chữ cuối cùng trước khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong
lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.

Mẹ kính mến! Thư này tới tay mẹ, chắc mẹ buồn lắm. Con của mẹ đã đi
xa để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu mẹ khổ đã nhiều,
nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song do đất nước có chiến tranh thì
mẹ ơi, hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến ngày đón mừng chiến
thắng. Mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau”…

Viết cho người vợ mới cưới được 6 ngày, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh
đã dành những lời yêu thương nhất. “Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư
này vì với bao nỗi buồn đè nặng lên tấm thân người con gái trẻ tuổi như
em… Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều, song đối với em
không những chẳng được cái diễm phúc ấy mà đã sớm phải xa rồi. Thật là
vừa gặp nhau đã phải mãi mãi xa nhau”…

Điều
khiến nhiều người cảm thấy thán phục vì trong bức thư này anh đã dự cảm
được nơi sẽ chôn cất mình sau khi chết để căn dặn vợ. “Nếu thương anh
thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường
đi như sau: Đi tàu vào TX Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hi
sinh khi đưa hàng qua sông. Từ TX qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về
Nhan Biều 1, sẽ thấy tấm bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảng tôn.
Thôi nhé, đấy là có điều kiện, còn không thì em cứ làm tốt những điều
anh dặn ở trên là tốt rồi…”.

Bức thư được anh Huỳnh viết và gửi cho một người bạn trước khi đi làm
nhiệm vụ. Do chiến tranh nên mãi đến khi hòa bình lập lại, người bạn
này đã tìm địa chỉ và đưa bức thư đến cho chị Xơ. Nhưng phải đến năm
2002, chị Xơ mới có điều kiện vào Quảng Trị để tìm kiếm. Và thật bất ngờ
vị trí mà anh Huỳnh nằm đúng như những gì anh viết trong thư.

30 năm được công nhận là con liệt sĩ

4

Hai bức thư với những dòng chữ đã nhạt nhòe và được lưu giữ cẩn thận tại Bảo tàng Thành cổ

Ngày 8/9/2002, tỉnh Quảng Trị hoàn tất công trình xây dựng phục chế
Thành cổ. Tình cờ trong lúc thi công hệ thống thoát nước, có công nhân
đã phát hiện ra nắp một chiếc hầm bê tông nằm ngay góc phía Tây Thành
cổ. Chiếc hầm có hình chữ A, nền láng xi măng, nóc hầm có trám gỗ và
những tấm lợp gỉ sắt. Trong lòng hầm vẫn còn nguyên 5 bộ hài cốt của 5
chiến sỹ hy sinh trong tư thế đang ngồi bồng súng.

Bốn người không xác định được tên tuổi, quê quán vì không có giấy tờ
tùy thân trên người. Duy nhất một bộ hài cốt có chiếc xắc – cốt (da của
Liên Xô) vẫn còn quàng trên người đó là liệt sỹ Lê Binh Chủng. Trong xắc
– cốt toàn bộ giấy tờ được bọc kỹ bằng gói ni lông bao gồm: Một quyển
nhật ký một nửa ghi chép công việc, một nửa dành cho gia đình, và một số
vật dụng tư trang khác.

Lần theo những trang nhật ký ghi chép của liệt sỹ Lê Binh Chủng trong
chiếc xắc – cốt để lại, được biết anh sinh năm 1944, quê ở xã Quỳnh Mỹ,
Quỳnh Lưu, Nghệ An. Anh nhập ngũ tháng 6/1965, tròn 21 tuổi và vào
thẳng chiến trường B5 tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị. Trong
một đợt tấn công chiếm Thành cổ, Tiểu đoàn 3 chiếm được chiếc hầm chỉ
huy của cố vấn Mỹ bỏ chạy. Nhưng bom đạn vẫn tiếp tục dội xuống Thành cổ
những ngày hè ác liệt đó, căn hầm của các anh bị sập. Lúc hi sinh ngày
3/8/1972 anh Lê Binh Chủng giữ chức vụ Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 3,
cấp bậc Thượng úy.

Trong số những di vật mà anh Lê Binh Chủng mang theo có nhiều lá thư
của chị Phan Thị Biển Khơi là người vợ được cưới trong thời chiến viết
gửi cho anh. Có bức thư viết đề 15/5/1972 với những nội dung đầy cảm
động. “Anh Binh Chủng thương yêu của mẹ con em! Cầm bút biên thư cho anh
trong lúc trên chiến trường Trị Thiên thắng to. Tin vui bay về hậu
phương làm cho mọi người dân lòng dậy sung sướng. Tự hào thay, trong
hàng ngũ những người chiến thắng đó, có anh, người mà em gửi gắm bao
niềm thương nỗi nhớ. Anh thương yêu!

Báo để anh mừng, con đã bỏ bú ăn cơm với cá nên rất khỏe, mùa màng
năm nay thắng lợi to, lúa tốt nhất từ trước tới giờ… Em và con gửi lời
tới các anh trong đơn vị và gửi tới anh cái hôn trìu mến”.

Chị Phan Thị Biển Khơi người con gái ở Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và
anh Lê Binh Chủng gặp và quen nhau khi cả hai đều nhập ngũ và làm việc ở
Phòng Hành chính Bộ Tham mưu mặt trận B5. Năm 1970, đơn vị đứng ra tổ
chức đám cưới cho hai người vì họ hàng ở xa. Anh chị thống nhất đặt tên
cho con là Lê Quảng An vì quê mẹ ở Quảng Bình, quê cha ở Nghệ An.

Khi Lê Quảng An gần 2 tuổi, tháng 4/1972, anh được ghé thăm vợ và
nhìn mặt con trong dịp tiến quân vào giải phóng Thành cổ. Đó là lần duy
nhất anh được nhìn mặt con trai chưa đầy 2 tuổi. Khi hòa bình lập lại,
chị Biển Khơi đã đưa con trai Lê Quảng An về quê nội xin nhận họ hàng.
Gia đình nhà nội vừa khóc vì thương chị và cháu, vừa lắc đầu vì “đất lề
quê thói”, ngày đi con trai chưa có vợ nên không dám nhận con dâu và
cháu vì không biết thực hư. Chị Biển Khơi nén nỗi đau ôm con về quê
ngoại.

Phải đến năm 2002 khi phát hiện được hài cốt của anh Binh Chủng là
tròn 30 năm kể từ ngày anh hy sinh, Sở LĐTB&XH Nghệ An đã làm mọi
thủ tục công nhận Lê Quảng An là con liệt sỹ. Sau 30 năm, người con trai
duy nhất của liệt sỹ Lê Binh Chủng được nhận bố và truy lĩnh chế độ con liệt sỹ.

Cả hai bức thư với những dòng chữ đã nhạt nhòa vẫn còn lưu giữ cẩn
thận tại bảo tàng Thành cổ khiến biết bao người rơi nước mắt. Nhưng vẫn
còn đó, dưới nấm mồ chung Thành cổ biết bao chiến sĩ đã hi sinh, biết
bao lá thư, những câu chuyện cảm động khác chưa được phát hiện. Xin mượn
những một đoạn trong bài “Cỏ non Thành cổ” của nhạc sĩ Tân Huyền để
nhắc nhỡ nhưng ai khi vào Thành cổ hãy để chút lòng thành khi nhớ về các
anh!

“Cho tôi hôm nay


vào Thành cổ


Thắp một nén nhang


cho người nằm dưới mộ


Cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ


Xin chớ vô tình,


với người hi sinh


Cho mảnh đất quê mình…”.


Theo Phan Tư / Giao Thông

Similar Posts