Kỷ vật kháng chiến: Viết tiếp câu chuyện lịch sử

Vợ chồng Đại tá Vũ Quang Bích và Đỗ Thị Chu Ngân đi thăm lại những kỷ vật của mình và đồng đội.

Cuộc vận động sưu tầm và giới thiệu “Những kỷ vật kháng chiến” sau ba năm đã nhận được hơn 11 nghìn hiện vật. Trong đó, 1033 hiện vật tiêu biểu đã được giới thiệu trong Triển lãm, khai mạc ngày hôm qua 15-12 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự, nhân tổng kết cuộc vận động sưu tầm.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự chiều qua đã chứng kiến những giọt nước mắt, những nụ cười, nhiều câu chuyện cảm động… mà không phải nói bằng lời. Những cựu chiến binh mái đầu đã bạc, huân chương treo đầy ngực áo, mắt nhòa lệ, tay run run sờ lên mặt kính, nơi bày những trang nhật ký ố vàng, bức ký họa chân dung người đồng đội đã nằm xuống, những chiếc mũ bị vết đạn xuyên thủng, rồi những chiếc lược, chiếc ca làm bằng vỏ máy bay…

Chiến tranh đã lùi xa 35 năm, nhưng với họ, ký ức vẫn còn vẹn nguyên ở đó. Những kỷ vật đã hoen ố màu thời gian và đạn bom khói lửa…

Những chuyện kể từ kỷ vật

Trong một góc nhỏ của tủ kính, có một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay người con gái, đã ố vàng nhưng vẫn còn nguyên nét mực: “Kính gửi chị Ngân! Đứng trên tình bạn thành thật, tôi muốn gặp chị chiều nay vào 6 giờ 30 tại phòng thương binh 11 cũ. Chuyện tôi muốn nói chỉ riêng với chị thôi. Mong chị nhận lời. Xem xong, chị xé thư này đi kẻo phiền”.

Không thể ngờ, đó là một bức thư tỏ tình của người chiến sĩ gửi cho người mình thầm yêu trộm nhớ.

Rất đông các bạn trẻ, vây quanh Đại tá, PGS Nguyễn Quang Bích và người vợ của mình, Thiếu tá-bác sĩ Đỗ Thị Chu Ngân. Hai cụ năm nay đều đã hơn 80 tuổi, tóc bạc lưng còng, chỉnh tề trong trang phục nhà binh, ngực đeo đầy huân huy chương các loại. Họ là “chủ nhân” của bức thư tỏ tình độc nhất vô nhị ấy. Cười tươi, gương mặt còn phảng phất nét đẹp yêu kiều thưở thanh xuân của người con gái Hà Nội, cụ bà Chu Ngân kể: Bức thư viết từ năm 1951. Khi đó hai người đang ở chiến khu. Đó là thư tỏ tình đầu tiên ông gửi cho bà.

“Thời đó nhận được bức thư như thế tôi cũng sợ lắm. Nhưng tôi rất hạnh phúc nên mặc dù ông nhà tôi cứ bảo tôi xé đi, nhưng tôi đã không xé. Tôi giữ nó gần 60 năm nay”.

Câu chuyện của hai cụ kể về buổi hẹn hò đầu tiên ấy, về đám cưới bằng hạt dẻ nơi chiến khu, về cuộc sống vợ chồng 23 năm xa cách… khiến cho các bạn trẻ cười rơi nướt mắt.

Còn ở một góc khác, có một người đàn ông cứ đứng khóc rất nhiều. Đó là Đại tá, PSG – TS Nguyễn Thuận, 76 tuổi, nghẹn ngào không nói được khi đứng trước tấm Bản đồ xây dựng phòng thủ ở cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, Lào – công trình do ông và các cộng sự thực hiện trong những năm chiến tranh.

Ông nói: “Đây là công trình nghiên cứu về việc phòng chống B52, tìm ra phương pháp tránh đỡ thương vong cho bộ đội. Mỗi lần nhìn lại tấm bản đồ Cánh đồng chum Xiêng Khoảng, tôi nhớ đến những học viên của tôi. Hầu như họ đều đã nằm lại nơi đó, vào khoảng năm 1972. Họ là những người trẻ tuổi, tài năng…”.

Ít ai biết, người đàn ông 80 tuổi, mang trong mình căn bệnh ung thư giai đoạn cuối này là một nhà khoa học, nguyên Phó Chủ nhiệm khoa Công trình quân sự (Học viện Kỹ thuật quân sự). Ông đã hiến tặng Bảo tàng 12 nhóm kỷ vật, trong đó có những công trình, ghi chép, la bàn, cả đồ dùng sinh hoạt và những dụng cụ nghiên cứu khoa học trong chiến tranh. Gần 40 năm nay, gia đình ông giữ gìn những kỷ vật đó như một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ông. Hiến tặng bảo tàng, nhưng thỉnh thoảng, ông lại bảo con cháu chở ra, để nhìn ngắm, trò chuyện… lặng lẽ một mình với những người đã khuất.

Kỷ vật đã trở thành báu vật

Đứng lặng trước chiếc nồi đồng đã xỉn màu và bị vết đạn làm sứt miệng, Thượng tá Trần Thanh Hằng (Văn phòng thường trực Cuộc vận động sưu tầm kỷ vật kháng chiến) kể: “Tôi đã đi suốt dọc đất Quảng Nam trong mấy năm trời và nghe người dân ở đó kể về một người mẹ đặc biệt. Mẹ Trần Thị Xân ở Đại Thắng, Đại Lộc, Quảng Nam, có năm người con là liệt sĩ. Bản thân mẹ cũng đã hy sinh khi đang nấu cơm phục vụ thương binh. Người dân ở đó kể, trong một lần máy bay địch ném bom, mọi người chạy tránh bom hết, mẹ cố ở lại để nấu cho xong nồi cơm. Và bom ném đúng vào căn nhà của mẹ. Khi những người đi sơ tán quay lại, thì thấy mẹ gục bên nồi gạo đang nấu dở, trộn lẫn đất đá và nhuốm đầy máu mẹ. Chiếc nồi đồng mười đó, sau này gia đình coi là vật thiêng, đặt trên bàn thờ mẹ”.

Rất nhiều thời gian thuyết phục, gia đình cũng chỉ đồng ý đưa cho chị những chiếc nồi khác (gia đình mẹ có bộ nồi đồng từ một đến mười). Mãi sau nhiều năm, khi chị Hằng đã trở nên thân thiết, nhận con trai của mẹ là em trai kết nghĩa, thì chị mới mang được chiếc nồi đồng mười- nay đã trở thành báu vật- về bảo tàng.

Cũng như chiếc nồi đồng, rất nhiều những kỷ vật, mà nếu thoạt nhìn qua, sẽ chẳng ai biết được, đằng sau đó là những câu chuyện rất dài, ly kỳ xúc động, chứa những nụ cười, nước mắt và cả máu xương của cả một thế hệ.

Đó là chiếc xe đạp của liệt sĩ Lang Sỹ Thủy, chiến sĩ trinh sát Sư đoàn 320. Là chiếc chân giả làm bằng ống pháo sáng đã bị cắt đứt của người lính Nguyễn Bằng Phi. Đó là bản gốc cuốn nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Hay đó là bộ sưu tập 581 bức thư của người lính gửi về hậu phương, hoặc của gia đình gửi ra tiền tuyến, thấm đẫm thương yêu và nhớ nhung khắc khoải, mong ngóng hòa bình… Đó cũng là những bộ sưu tập những đồ dùng tự tạo của bộ đội trong kháng chiến, nét tài hoa của người chiến sĩ qua những chiếc ca, chiếc lược, ống sáo, cây đàn… được làm từ mảnh bom, xác máy bay địch. Đó là bộ sưu tập đèn trong kháng chiến, độc đáo, nên thơ và cảm động…Vô vàn những câu chuyện không thể kể hết bằng lời. Có những kỷ vật đã trở thành đề tài nhiều kỳ cho những tờ báo hằng năm nay, và mãi mãi sẽ được nhắc đến như những câu chuyện thần kỳ.

Đó là câu chuyện về cuốn nhật ký bằng tranh của họa sĩ- chiến sĩ Lê Đức Tuấn. Trong trận đánh đầu tiên ở Chư Tan Kra, Tây Nguyên, chiếc ba lô để lại hậu cứ của anh đã lọt vào tay quân Mỹ. Cũng giống như câu chuyện về cuốn nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, ngạc nhiên và cảm phục trước tâm hồn và sự tài hoa của người chiến sĩ Việt cộng, người lính Mỹ đã giữ lại cuốn sổ gồm 109 bức tranh đẹp đẽ, sinh động về chiến trường, về chân dung những người đồng đội của anh, về phong cảnh đất nước. Cuốn sổ lưu lạc 42 năm trên đất Mỹ, cuối cùng, người giữ nó đã tìm cách trả về cho Việt Nam và qua nhiều đoạn trường kỳ lạ, đã trở về đến tay người chủ của nó, họa sĩ Lê Đức Tuấn…

Viết tiếp câu chuyện lịch sử

Hơn một nghìn kỷ vật được trưng bày, giới thiệu với công chúng tại triển lãm này chỉ là một phần rất nhỏ trong số hiện vật mà Ban vận động sưu tầm nhận được trong ba năm. Điều đó bắt đầu từ việc nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa quân sự trong điều kiện mới. Nhiều cơ quan truyền thông đã chung tay trong cuộc vận động đầy ý nghĩa này. Tổng cục Chính trị, Hội Cựu chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động, các đơn vị thực hiện gồm có báo Quân đội Nhân dân, Báo Tiền phong, Đài TH Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Thời báo Ngân hàng. Đặc biệt, Công ty Cổ phần Bắc Á là đơn vị đã tài trợ cho cuộc vận động này. Không chỉ sưu tầm được hàng nghìn hiện vật, cuộc thi viết về những câu chuyện đằng sau kỷ vật đã nhận được nhiều bài viết giá trị.

Đại tá Nguyễn Thuận, vợ chồng Đại tá Vũ Quang Bích, họa sĩ Lê Đức Tuấn, hay gia đình mẹ Trần Thị Xân… là những người đã tích cực và tự nguyện hiến tặng những kỷ vật của mình- những kỷ vật đã gắn bó, chứa đựng một phần máu xương của họ- cho Bảo tàng. Họ đều có một mong muốn, từ đây, những kỷ vật của họ đã trở thành báu vật. Chứa đựng trong đó là một phần những câu chuyện lịch sử. Quá khứ vẫn đang được viết tiếp, bởi vẫn còn vùi lấp đâu đó trong ký ức…

Similar Posts