Lá thư không người nhận của con gái liệt sĩ Gạc Ma

7 ngày sau sự kiện Gạc Ma năm 1988, con gái liệt sĩ Trần Đức Thông chưa biết tin bố hy sinh nên vẫn viết thư cho ông. Lá thư vĩnh viễn không có người nhận.
Chị chính là Đại úy Trần Thị Thu Hà, con gái liệt sĩ Trần Đức Thông, hiện công tác tại Công an tỉnh Hà Nam.

Lá thư mực xanh viết trên nền giấy đã ố vàng được chị Trần Thị Thu Hà,
con gái liệt sĩ Trần Đức Thông gửi cho bố ngày 20/3/1988, tức 7 ngày sau
khi lính Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, cưỡng chiếm đảo Gạc Ma. 

“Con ngồi vào bàn mà không sao học được vì lúc đó là buổi ca nhạc
7h30-8h toàn hát những bài về Trường Sa. Lúc này, con nhớ bố vô hạn”,
linh cảm khiến chị Thu Hà đặt bút viết. Cô con gái thông báo với bố đã
nhận được
 50 kg gạo và 140.000 đồng ông gửi theo đoàn công tác của Lữ đoàn 147 cho ba mẹ con ở nhà.

ls-9591-1426181748.jpg

Anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông là tham mưu trưởng, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146 Vùng 4 Hải quân. Ông là người chỉ huy trực tiếp cao nhất tại Trường Sa trong sự kiện 14/3/1988.

Chị Hà kể lại, tối hôm đó đang học bài thì thấy nóng ruột nên viết thư
cho bố và ba ngày sau chị mang đi gửi. Hòm thư của Bưu điện Cam Ranh
nhận ngày 28/3/1988. Cô con gái không ngờ đó là lá thư cuối cùng viết
cho bố, nhưng ông không nhận được vì vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi
vào sáng 14/3/1988 khi xảy ra trận hải chiến.

“Cả nhà không biết và cũng không ai tin ông hy sinh. Bởi vì sau ngày
14/3, cứ cách vài ba ngày, mẹ con tôi lại nhận được những lá thư ông
viết, hỏi thăm tình hình ở nhà, bảo đừng lo lắng khi ông đi làm nhiệm
vụ. Kể cả khi nhà biết tin rồi mà vẫn nhận được thư”, chị Hà cho hay.
Mãi sau này khi gặp người lính liên lạc của ông, chị mới biết
trước khi xuống tàu đi đảo, trung tá Thông đã viết rất nhiều thư rồi dặn
dò người lính ấy cách vài ngày mới chuyển cho vợ con đang sống ngoài
Bắc.

Tối 26/3/1988, chị Hà cùng em trai Trần Hoài Nam học bài mệt quá bèn
bật chiếc đài nhỏ lên nghe chương trình ca nhạc. Chị loáng thoáng nghe
được “trung tá Trần Đức Thông bị thương nặng vào đầu vẫn đứng ở mũi tàu
chỉ huy cho đến lúc hy sinh”. Hai chị em ngờ ngợ vì đơn vị bố có hai
người tên Thông. Chị vẫn hy vọng bố mình chỉ bị thương chứ không ngờ ông
đã hy sinh và con tàu HQ-604 mãi mãi nằm dưới đáy biển.

“Chị em tôi tìm cách giấu chiếc đài cassette đi, nhưng chẳng ngờ tối
hôm đó mẹ từ bệnh viện về, cứ nằng nặc đòi tìm chiếc đài để nghe tin
tức. Thế rồi bản tin lúc nửa đêm phát lại một lần nữa. Mẹ nghe tin bố hy
sinh mà ngất lịm”, chị Hà nhớ lại.

Những ngày sau đó, bà Nguyễn Thị Seo nằm một chỗ vì suy sụp tinh
thần, từ 45 kg sụt xuống chỉ còn hơn 30 kg. Trong thâm tâm bà vẫn hy
vọng chồng mình nằm trong số người lính bị Trung Quốc bắt. Mãi sau này,
khi các chiến sĩ được trao trả không có tên ông, bà mới tắt hẳn hy vọng.
Nhận lại quân tư trang của ông từ đơn vị, bà nâng niu từng bộ quần áo,
chiếc chăn cũ hay chiếc võng dù.
 Nhiều năm sau này, chiếc chăn của ông luôn được bà Seo gấp ngay ngắn ở đầu giường để như có hơi ấm của chồng kề bên.

thu1-8112-1426181748.jpg

Lá thư chị Thu Hà viết ngày 20/3/1988, một tuần sau sự kiện hải
chiến Trường Sa. Lá thư hiện được trưng bày tại Bảo tàng Hải quân (Hải
Phòng). Ảnh: Giang Chinh.

Kết hôn năm 1971, cuối năm ấy bà Seo sinh con gái thì ông Thông
lên đường ra mặt trận. Cả cuộc đời làm vợ, bà chỉ được ở bên chồng vỏn
vẹn một năm cộng dồn những ngày ông về phép. Năm 2005, bà Seo ra đi sau
một cơn tai biến. 
“Bố nằm lại giữa biển khơi không ai được
nhìn mặt lần cuối, mẹ ra đi đột ngột cũng không kịp trăng trối với chị
em tôi điều gì”, chị Hà đau xót.

Chị nhớ lại lần cuối cùng được gặp cha là dịp Tết năm 1988. Đóng
quân ở đảo 18 tháng ông mới được về nghỉ phép. Mỗi lần ông về đều rất
gầy và đen, từng bị sốt rét trong những ngày chống Mỹ nên ông không bao
giờ béo được. Lần về phép ấy như có linh tính báo trước, ông lên trường
xin cho con gái
 nghỉ tập quân sự rồi hai bố con đạp xe từ
nhà ở Phủ Lý (Hà Nam) về Hưng Hà (Thái Bình) thăm họ hàng, giới thiệu
với từng người bạn đồng ngũ “đây là con gái của tôi”. 

Khi còn gần một tháng nghỉ phép thì ông nhận được điện của đơn vị
vào đi làm nhiệm vụ gấp. Trước ngày đi, ông còn bảo “mai đi rồi, tôi
gánh tặng cho con gái rượu của tôi một bể nước kỷ niệm”. Ông ra sông
gánh từ chiều đến tối được một bể nước đầy. Sáng hôm sau, ông xuống tàu ở
Nam Định xuôi vào Nha Trang (Khánh Hòa) rồi từ đó không trở về nữa.

Khi bố hy sinh, Thu Hà 17 tuổi, còn em trai Trần Hoài Nam 14
tuổi. Trong ký ức của cô con gái lớn, người cha rất giản dị và gần gũi.
Mỗi lần về phép, ông thường mang thịt hộp về làm quà, có khi là bộ quân
trang được cấp theo tiêu chuẩn. 
Chị Hà thích nhất chiếc
quần hải quân màu xanh, liền sửa thành quần nữ sinh rồi mặc suốt mấy năm
phổ thông, đến tận lúc rách rồi còn không nỡ vứt đi.

IMG-1812-8949-1426181748.jpg

Đại úy Trần Thị Thu Hà, con gái liệt sĩ Trần Đức Thông, hiện công tác tại Công an tỉnh Hà Nam. Ảnh: Hoàng Phương.

Ông dạy các con cách gấp quần áo, chăn màn gọn gàng như trong quân ngũ. Sống
ở Trường Sa thiếu nước ngọt, ông dạy con phải tiết kiệm nước. Ông không
bao giờ nói đến hiểm nguy của người lính, nhưng góp nhặt những câu
chuyện ông kể, chị Hà biết thế nào là “tắm búng” của lính đảo Trường Sa
.
Sau mỗi lần luyện tập mồ hôi ướt đẫm người, họ ngồi cọ ghét rồi vê lại
thành viên nhỏ búng đi, sau đó nhúng ướt khăn lau người cho sạch sẽ.
Tiêu chuẩn chỉ huy cũng chỉ được 3 lít nước ngọt để đánh răng, rửa mặt
và tắm mỗi ngày. Dùng xong rồi lại phải để nước đó tưới rau.

Chị Hà kể: “Ở đảo thiếu rau xanh nên mỗi lần về là ông rất thèm
rau, nhất là rau muống, rau lang, su hào, bắp cải. Tranh thủ thời gian
ít ỏi ở nhà, ông luôn chăm chút vườn rau cho mấy mẹ con trước khi về đơn
vị”.

Năm 1978, sau chuyến thăm Trường Sa cùng lãnh đạo Bộ Quốc phòng, đang
công tác ở đơn vị pháo binh ông liền xin chuyển sang hải quân rồi đi xây
dựng đảo. Hơn 10 năm gắn bó với Trường Sa, ông đưa đảo Sơn Ca từ
trung bình lên khá nhất trong quần đảo; tổ chức tiếp nhận hàng nghìn tấn
vật liệu và chỉ huy xây dựng các đảo Nam Yết, Thuyền Chài.

Năm 2013, chị Hà được ra Trường Sa, thăm nơi cha mình từng gắn bó
và ngã xuống khi làm nhiệm vụ. Nhìn ngắm những Sơn Ca, Sinh Tồn, Nam
Yết hôm nay, chị tự hào vì biết trong đó có sự đóng góp của cha.

27 năm trôi qua, chị Hà vẫn sống ở ngôi nhà cũ ở Phủ Lý (Hà Nam) để
chăm lo hương khói cho bố mẹ. Ngôi nhà ở Thái Bình hiện đã trở thành nhà
tưởng niệm, là nơi gặp gỡ của gia đình, đồng đội mỗi ngày giỗ ông. Theo
phong tục truyền thống của người Việt, ngày giỗ được tính theo âm lịch
nên nhiều năm nay, gia đình đều làm giỗ vào 27 tháng Giêng – ngày 64
liệt sĩ ngã xuống năm Mậu Thìn 1988.

“27 năm qua, ngày ấy đã trở thành ngày giỗ chung của 64 gia đình trên đất nước này. Nỗi
đau nào qua thời gian rồi cũng nguôi ngoai, nhưng nỗi đau này thì âm ỉ
mãi. Tôi không còn hy vọng có thể tìm thấy hài cốt của cha nữa, chỉ có
thể sống tốt, kể cho các con nghe câu chuyện về ông ngoại chúng và rất
nhiều người lính đã ngã xuống giữa Gạc Ma để bảo vệ chủ quyền của đất
nước”, chị nói.

*Lá thư của chị Thu Hà gửi bố Trần Đức Thông

Năm 2001, người dân thôn Cộng hòa, xã Minh Hòa (Hưng Hà, Thái Bình)
đã góp tiền xây dựng đài tưởng niệm mang tên anh hùng liệt sĩ Trần Đức
Thông. Năm 2009, Bộ tư lệnh quân chủng Hải quân xây dựng nhà tưởng niệm
ông. Năm 2010, UBND huyện Hưng Hà quyết định lấy tên anh hùng liệt sĩ
Trần Đức Thông đặt tên cho trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS ở
xã Minh Hòa như lời tri ân dành cho người con anh hùng của quê hương.

Ngày 13/3/2015, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cùng UBND tỉnh
Khánh Hòa đặt viên đá đầu tiên xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma
hy sinh trong cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc. Khu tưởng niệm
rộng 2,5 ha nhìn ra biển Đông và hướng về đảo Gạc Ma, thuộc xã Cam Hải Đông (Cam Lâm, Khánh Hòa).

“Khu tưởng niệm giúp gia đình liệt sĩ Gạc Ma có nơi thắp
hương vào dịp 14/3. Đây cũng là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, bảo
vệ tổ quốc cho thế hệ sau. Những người ngã xuống ở Hoàng Sa hay Gạc Ma
đều là tấm gương hy sinh vì dân tộc. Họ đáng được trân trọng”, ông Đặng
Ngọc Tùng, Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chia sẻ.


Hoàng Phương (VnExpress)

Similar Posts