Một ngôi chùa độc đáo và bảo vật Xứ Đông

Chùa An Ninh hay Vãn Lộng Tự, Vĩnh Khánh Tự, nằm ở thôn An Đông, xã An Bình (Nam Sách-Hải Dương). Bản “Sự tích Thành hoàng làng An Ninh” (nay là thôn An Đông và An Đoài) do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân 1572 ghi lại, chùa có từ rất sớm, do một người con gái tên là Phạm Thị Toàn, con ông Phạm Lương làm quan chức Hoan châu Bộ chủ quy y cửa Phật xây dựng. Sau khi mất, bà được tôn làm Thành hoàng, rất linh thiêng, từng hiển linh giúp quan quân nhà Trần đánh thắng giặc Nguyên Mông năm 1287.

Độc đáo ở Xứ Đông

Ban đầu quy mô ngôi chùa nhỏ bé, không tiếng
tăm gì. Đến năm 1691, thời vua Lê Hy Tông, chùa An Ninh được một vị sư
gọi là Tổ Rau trụ trì. Sở dĩ có pháp hiệu vậy vì ông thuộc Thiền phái
Trúc Lâm, tu theo lối tịch cốc, một ngày chỉ ăn 1 bìa đậu phụ và 2 mớ
rau muống vào chính ngọ. Điều kỳ lạ là ông vẫn khỏe mạnh dù hằng ngày
giảng kinh thuyết pháp.

 
Việc truyền đến kinh thành, ông được vua Lê Hy Tông cho triệu vào
cung để hỏi chuyện. Tổ Rau cứ thực mà tâu bày. Vua bán tín bán nghi bèn
cho thợ đánh một chiếc vòng vàng vừa khít cổ tay của Tổ Rau có nhã ý
thử, rồi lưu Tổ Rau ở lại trong cung giảng Phật pháp. Mỗi ngày nhà vua
cho tăng khẩu phần ăn của Tổ Rau lên 2 bìa đậu, 4 mớ rau muống.
 
Sau một tháng ở trong kinh, vua thấy Tổ Rau không gầy đi mà còn béo
tốt, hồng hào ra. Cổ tay đeo vòng vàng đã chật cứng. Lại thấy Tổ Rau
làu thông kinh Phật, nhà vua lấy làm cảm phục bèn phong chức Tăng Lục
Thiền Gia và bốn chữ An Ninh Pháp Tràng, cho phép được về quê mở trường
dạy.
 
Thấy ngôi chùa nhỏ bé, vua cấp tiền xây sửa khang trang. Các quan
thì cung tiến tượng Phật. Từ đó, An Ninh Pháp Tràng trở thành trường
truyền dạy Phật pháp nổi tiếng của xứ Đông và cả nước.
 
Đến năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705) đời vua Lê Dụ Tông, triều đình tiếp
tục cho  sửa thượng điện. Các năm 1740 và 1809, chùa được tu sửa và tôn
tạo khá nhiều công trình. Thế kỷ XIX – XX, chùa được trùng tu lớn tới
100 gian nên còn được gọi tên chùa Trăm gian. Qua thời gian và chiến
tranh tàn phá, chùa bị xuống cấp nên không còn giữ đủ 100 gian.
 
Từ năm 2007-2010, chùa đã được Nhà nước đầu tư 14 tỷ đồng trùng tu
tôn tạo lại. Đến nay toàn bộ chùa có tổng cộng 70 gian. Với giá trị quan
trọng, chùa Trăm gian đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1990.
 
Hiện tại chùa còn lưu giữ hệ thống cổ vật phong phú với trên 50 pho
tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, nhiều đại tự, câu đối,
bia đá cùng các cổ vật có chất liệu gỗ, gốm, đồng. Đáng chú ý là pho
tượng Phật A Di Đà cao khoảng 3m trên bệ đá hơn 2m nằm trên cùng thượng
điện. Phía sau bệ đá có vẽ bức tranh mặt trước cảnh chùa với gác trống,
tháp chuông, cầu đá, tam quan. Chiếc vòng vàng được vua Lê Hy Tông ban
Tổ Rau đã góp để đúc pho tượng này. Chính vì vậy mà pho tượng Phật A Di
Đà này được cung kính đặt trên cùng thượng điện thay vì ba pho Tam thế
như các ngôi chùa khác.
 
Cùng với kiến trúc và hệ thống tượng Phật độc đáo, trong chùa còn
có chiếc chuông cổ đúc vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), được treo ở tam
quan chùa. Tam quan cũng là một công trình cổ kính với 2 tầng mái, các
đầu đao uốn cong, tạo sự thanh thoát, bay bổng. Phần cột tam quan được
kết hợp giữa kiến trúc phương Đông và kiến trúc Pháp tạo sự lạ mắt do
nhà sư pháp hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục (một nhân sĩ của phong trào Đông
Kinh Nghĩa Thục bị Pháp truy sát về đây tu) xây dựng vào thời vua Bảo
Đại.
 
Chùa Trăm gian còn độc đáo với vườn tháp cổ phía sau chùa. Trong đó
có 9 ngôi được xây dựng vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Đây là nơi an
nghỉ của các vị tổ sư đã từng trụ trì tại chùa. Hai ngôi tháp mộ của Tổ
Rau và Viên Giác được xây bằng gạch Cậy cổ vẫn nguyên vẹn.   

Những mộc bản kinh Phật ở chùa Trăm gian đã có trên 170 năm tuổi
 
Chiêm ngưỡng mộc bản
 
Ngoài những nét độc đáo, chùa An Ninh còn nổi tiếng với những mộc
bản đã có niên đại hàng trăm tuổi. Số mộc bản này hiện được lưu giữ
trong phòng khách chùa trên hai giá gỗ ba tầng.
 
Thoạt nhìn các mộc bản không có gì nổi bật song quan sát kỹ mới
thấy sự tinh xảo trên từng nét khắc. Các mộc bản được làm bằng gỗ có
kích cỡ khoảng 30x40cm, độ dày khoảng 1,5 cm, hai mặt được khắc nổi chữ
Nho. Mỗi mặt tương đương với 2 trang in.
 
Ngoài ra, còn một số mộc bản có kích cỡ khá lớn, trên mặt ngoài chữ
Nho còn có các bùa, chú. Trên các mộc bản đều hằn lên màu đen của mực,
điều đó chứng tỏ chúng đã từng được sử dụng để in ấn. Do thời gian, chữ
trên một số mộc bản đã bị mòn, vỡ.
 
Sư thầy Thích Tục Phương, trụ trì chùa cho biết: Đây là các mộc bản
kinh Phật, được nhà sư Viên Giác, tổ đời thứ 2 của chùa cho khắc vào
thời vua Minh Mạng (1791- 1841) để giảng đạo. Nhà sư Viên Giác viết lời
tựa, ông Phạm Thanh San và ông Phạm Khắc Thọ là hai thợ khắc chữ nổi
tiếng của xã Thanh Lâm (Nam Sách) thực hiện.
 
Theo truyền lại, khi khắc, mỗi chữ trên mộc bản được định giá bằng 2
kg thóc. Bộ mộc bản kinh này hai người thợ phải làm ròng rã hàng năm
trời mới hoàn thành. Sau khi hoàn thành, bộ mộc bản được dùng để in kinh
sách phục vụ cho công việc giảng dạy Phật pháp của chùa. Khoảng những
năm 60-70 của thế kỷ 20, chùa còn giữ được hàng trăm đầu sách kinh tự in
ấn. Sau số sách này được chuyển cho ngành văn hóa lưu giữ. Đổi lại,
phía xã được nhận 3.000 đầu sách quốc ngữ bổ sung cho thư viện. 
 
Tính đến nay, bộ mộc bản chùa trăm gian đã có trên 170 năm tuổi,
tương đương độ tuổi của các mộc bản triều Nguyễn. Trải qua thời gian,
đến nay một số mộc bản trong chùa đã mất, hư hỏng. Hiện nay, chùa còn
lưu giữ được trọn vẹn 5 bộ mộc bản kinh Phật với khoảng 700 bản khắc là:
Giới đàm tăng (dành cho các nhà sư lên chức thụ giới), Giới đàm ni
(dành cho các ni lên chức thụ giới), Dược sư đề cương (sách thuốc); bộ
Nhật tụng (khóa lễ, khóa tụng hằng ngày của chùa trăm gian được nhà sư
Viên Tịch, tổ đời thứ 3 cho khắc hiệu đính lại các bản in trước); đặc
biệt là bộ Khóa Hư Lục, pho sách Phật giáo của Việt Nam do Trần Thái
Tông (1218-1277) biên soạn. Chỉ ngần ấy thông tin cũng đủ xếp mộc bản
chùa Trăm gian vào hàng bảo vật của xứ Đông.
 
Mang trong mình những giá trị tâm linh đặc biệt, sự độc đáo, chùa
Trăm gian là một danh thắng có một không hai của xứ Đông. Tuy nhiên do
công tác quảng bá còn hạn chế, đường xá chưa thuận tiện, nên giá trị du
lịch của chốn pháp tràng xưa chưa được khai thác hiệu quả. 
 
Theo NGỌC HÙNG (Hải Dương Online)

Similar Posts