Những lá thư thời chiến

Có lẽ nhiều người vẫn còn lưu giữ những ấn tượng sâu sắc về cuốn nhật ký của nữ anh hùng liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm và nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Qua sự đón nhận của nhiều người, nhất là tuổi trẻ với hai cuốn nhật ký này, mới thấy thời nào cũng vậy, những trái tim nồng nàn đầy nhiệt huyết, khát khao cống hiến và hy sinh cho Tổ quốc đều có sức thu hút mọi thế hệ, bởi những gì họ viết ra đều chân thật, sống động như thời họ sống…Cũng trong hoàn cảnh như thế, còn có hàng chục nghìn lá thư thời chiến của những người lính viết từ chiến trận, bên công sự, dưới hầm sâu vương mùi đạn bom…còn lưu giữ được ở các gia đình là một phần của cuộc chiến tranh mà chúng ta chưa có dịp cảm nhận.

“Khi được sống hoà bình hãy nhớ tới anh”

Những người có dịp về thăm Thành Cổ Quảng Trị sẽ hẳn không cầm được nước mắt khi được hướng dẫn viên kể về lá thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đang được lưu giữ ở nhà trưng bày.

Anh Huỳnh sinh năm 1949, trong một gia đình nông dân ở Thái Bình. Đang là sinh viên học năm thứ tư Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, tháng 5-1972 anh tình nguyện đi bộ đội và xung phong vào chiến trường Quảng Trị. Cuộc chiến đấu ở Thành Cổ khi đó đang diễn ra 81 ngày đêm giữ thành rất khốc liệt. Để chốt giữ được Thành Cổ trong mưa bom bão đạn, có thời điểm một ngày đêm quân giải phóng phải hy sinh cả đại đội.

Khi đang ở phía bên này Thạch Hãn, được lệnh cấp trên đưa hàng vào Thành Cổ, Lê Văn Huỳnh biết khó có ngày trở về nên anh đã viết thư thăm hỏi người mẹ già, dặn dò người vợ trẻ, chào vĩnh biệt tất cả mọi người thân trong gia đình.

“Quảng Trị, ngày 11/9/72

Toàn thể gia đình kính thương!

Mẹ kính mến!…Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi. Bố con đã đi xa, để lại cho mẹ bao khó nhọc. Nay con đã đến ngày khôn lớn thì…Thôi nhé, mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau!…

Em thương yêu!… khi nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều cho đời tươi trẻ. Nếu có điều kiện, hãy cứ “đi bước nữa” vì em còn trẻ lắm. Theo anh thì nên làm như vậy. Nhưng anh chỉ mong một điều là em đối đãi với mẹ và anh chị trong nhà như khi anh còn sống…Thôi nhé, em đừng buồn, khi được sống hoà bình hãy nhớ tới anh…”

Điều kỳ diệu là trong thư anh đã tiên đoán được nơi mình hy sinh, được đồng đội chôn cất ở thôn Nhan Biều 1 và hướng dẫn trong thư một cách tỉ mỉ đường đi cho người vợ của mình ngày thống nhất có điều kiện thì vào Nam mang hài cốt anh về quê. Lá thư trên được một đồng đội của anh chuyển về tận quê trao cho gia đình.

Năm 2002, gia đình và đồng đội của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã vào Quảng Trị, theo sự chỉ dẫn trong thư và xác định của đồng đội chôn cất anh, gia đình đã tìm được hài cốt của anh đưa về mai táng ở quê. Một điều rất cảm động là chị Đặng Thị Xơ, người vợ trẻ của anh qua bao nhiêu năm tháng tuổi thanh xuân vẫn không “đi bước nữa” như lời anh dặn trong thư mà ở vậy thờ chồng.

* Dưới làn mưa đạn vẫn vững vàng tiến lên phía trước

“…Có những lúc chúng con phải phá bom mở đường ở các trọng điểm đánh phá trên bộ, dưới làn bom đạn dày đặc của máy bay giặc Mỹ. Bị sức ép nhiều lần, anh em thương vong gần hết, nhưng con của cậu mợ vẫn vững vàng tổ chức các đồng chí gan dạ nhất phá sạch bom đạn giặc, cho xe thông đúng 12 giờ sau lệnh ngừng bắn. Anh em lái xe trên tuyến đường này đã dành cho chúng con những phần thưởng rất đáng quý.

Dù đứng giữa bãi bom của địch, hay dưới làn mưa đạn máy bay, con của cậu mợ vẫn vừng vàng tiến lên phía trước. Cậu mợ ạ, ở đây chuyện sống chết đặt ra không phải từng ngày, mà từng giờ một. Có đồng chí vừa thăm con, nửa tiếng sau đã bị hy sinh. Có lúc con đã phải động viên sự hy sinh của từng người. Những lúc đó, như mọi người, con cũng nghĩ tới chuyện sống chết.

Con nghĩ nếu con hy sinh thì trước mắt sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, không đầy đủ trách nhiệm với các đồng chí cùng đi. Cậu mợ và các em con sẽ thương nhớ con nhiều. Sức khoẻ của cậu mợ cũng mau bị giảm sút. Tuy vậy không phải lúc nào con cũng được cân nhắc tới chuyện sống chết. Bởi con nghĩ rằng cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ hay trốn tránh những hy sinh cần thiết! Và lúc đó con lại vững vàng tự tin đứng giữa bãi bom…”

Đó là một đoạn trong lá thư gửi về gia đình của liệt sĩ Hoàng Kim Giao. Anh sinh năm 1941, từng học tại Trường thiếu sinh quân ở Quế Lâm. Những năm 1961-1965, anh được quân đội gửi vào học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên ngành Vật lý hạt nhân, đồng thời là học viên Trường sĩ quan Kỹ thuật của quân đội. Vốn thông minh, học giỏi, lại chịu khó, 26 tuổi Hoàng Kim Giao đã tốt nghiệp hai trường đại học và được điều về công tác tại Cục nghiên cứu kỹ thuật, thuộc Tổng cục Hậu cần- Bộ Quốc phòng. Quân đội đang chuẩn bị đưa anh đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô thì thời điểm đó không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc. Hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ đã trút xuống các tuyến giao thông huyết mạch trên đất liền và trên biển, trong đó có nhiều vũ khí hiện đại bậc nhất thời bấy giờ như bom từ trường và thuỷ lôi từ tính nổ chậm.

Hoàng Kim Giao tham gia nhóm kỹ sư trẻ của Cục nghiên cứu kỹ thuật tìm giải pháp công nghệ cho công trình phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông. Anh vào chiến trường khu 4, nơi chiến tranh đang diễn ra ác liệt, trực tiếp hàng trăm lần đối mặt với tử thần, phá được 72 quả bom nổ chậm, trong đó có 40 quả bom từ trường, cùng đồng đội thực nghiệm thành công đề tài của mình ngay tại chiến trường. Anh đã anh dũng hy sinh vào ngày cuối cùng của năm 1968 khi mới 27 tuổi với bao mơ ước dự định còn dang dở. Anh đã đóng góp xứng đáng vào công trình khoa học “Phá thuỷ lôi và từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông 1967-1972”- công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996).

Những lá thư của anh gửi về cho gia đình trong những ngày diễn ra chiến tranh ác liệt thể hiện tình cảm vô bờ bến của anh đối với gia đình, đồng thời qua đó chúng ta hiểu được phần nào lý tưởng sống, sự cống hiến hy sinh của một thế hệ trí thức đã xung phong vào nơi hòn tên, mũi đạn để góp phần làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975.

* “Đời các em sau này sẽ sung sướng hơn đời anh”

Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn, sinh năm 1950, quê ở Trung Giang, Gio Linh, Quảng Trị. 18 tuổi, anh Tấn xung phong nhập ngũ. Sau một thời gian được huấn luyện trên đất Bắc, năm 1969 anh cùng đồng đội vào Nam chiến đấu. Trong một trận chiến đấu không cân sức với kẻ thù, anh đã hy sinh cùng đồng đội vào ngày 18-6-1970. Những bức thư anh gửi về gia đình được viết từ chiến trường vượt qua bao mưa bom bão đạn và sương gió về được với người thân. Hiện gia đình anh vẫn giữ những bức thư này như là kỷ vật cuối cùng của anh. Trong thư gửi về gia đình ngày 21-1-1970, anh viết:

“Ba mạ ạ! Lá thư này chắc là lá thư cuối cùng con ngồi viết cho ba mạ, các em đây. Con sẽ phải xa gia đình một thời gian khá dài và không biết ngày nào gặp lại ba mạ và các em?

Ngày ấy là ngày thống nhất Tổ quốc!

Đời thanh niên là như vậy, đâu có bom rơi đạn nổ là xông vào. Trong cuộc chiến đấu sinh tử một mất một còn giữa ta và địch có thể hy sinh, những người đồng chí và những người bạn của con có thể nằm lại mảnh đất miền Nam vĩnh viễn không bao giờ trở lại, đó là điều tất nhiên… Phải có sự hy của những người tràn đầy nhựa sống như con đấy. Nếu có hy sinh đi nữa cũng là đóng góp một phần nhỏ cho cách mạng…

Trước khi xa ba mạ cùng các em, con chúc ba mạ luôn mạnh khoẻ, cố gắng nuôi dạy các em ăn học là con mừng. Còn về các em thì hãy cố gắng lên nhé, đời các em sau này sẽ sung sướng hơn đời anh, khi ấy không có cảnh bom rơi đạn nổ trên đầu nữa, ăn mặc sung sướng…”

Những người lính như anh Nguyễn Ngọc Tấn ngày ấy đi vào chiến trường với một lý tưởng chiến đấu để giành lại quê hương, đất nước, bởi vậy sự hy sinh mất mát được các anh xác định trước là đóng góp một phần cho cách mạng, để thế hệ mai sau được sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc.

* Lời dặn dò với người vợ trẻ

Ở chiến trường ác liệt, liệt sĩ Trần Đồng, quê ở Hoà Nghĩa, Ninh Hoà, Khánh Hoà nhập ngũ năm 1945, tập kết ra Bắc năm 1955. Tháng 12-1966, anh đi B và chiến đấu, hy sinh tháng 12-1967 trong một trận đánh ác liệt ở đầm Thị Nại, Quy Nhơn, lúc đó anh là Tham mưu trưởng Trung đoàn. Những lá thư còn lại của anh thể hiện anh là một người chồng nhiệt tình, chu đáo, vừa tự mình phấn đấu lập công ở chiến trường, vừa động viên vợ con ở nhà phấn đấu công tác học tập. Trong lá thư đề ngày 24-11-1966, anh viết:

“Em và các con quý mến!

Hôm nay anh đi công tác xa, thư về thăm nhà, mong sao em và các con khoẻ, tiến bộ trong công tác và học tập thì anh mừng.

Em ạ, chắc em cũng thông cảm, đứng trước nạn xâm lăng của đế quốc Mỹ, trước sự mất còn của đất nước mọi người đều phải tham gia trong trận tuyến chống Mỹ cứu nước, kẻ đi trước người đi sau, kẻ ở tiền tuyến, người ở hậu phương, đó là nhiệm vụ cách mạng. Do đó mà vợ chồng và cha con phải tạm xa nhau một thời gian nhất định…

Ngoài việc chăm lo gia đình, nuôi dưỡng các con… về văn hoá, em cố gắng học cho tốt, làm sao mỗi năm phải đạt một lớp. Có con nó học cũng khá rồi, xem bài vở của nó học mà học thêm. Phải tích cực tham gia công tác đoàn thể, công tác xã hội, thấy việc gì mình có khả năng làm được thì mạnh dạn đảm nhiệm, vấn đề gì có khó khăn thì nhờ sự giúp đỡ của anh chị em chung quanh…Nếu sau này có viết thư cho anh, ngoài nói việc sinh hoạt gia đình và sức khoẻ của em, của các con, em phải kể sự tiến bộ công tác trên của em cho anh biết với nhé. Mà đó là món quà quý nhất của người vợ hiền ở hậu phương gửi đến người chồng ở tiền tuyến…”

Anh không còn được trở về như lời hẹn ước với người vợ trẻ mà nằm lại trên chiến trường lửa đạn. Nghe theo lời khuyên của chồng, người vợ hiền của anh đã tiến bộ trong cuộc sống và công tác. Anh hy sinh để lại cho người thân, vợ con niềm thương tiếc khôn nguôi. Sau này vợ anh đã đưa các con về sinh sống và công tác ở quê chồng với niềm mong các con luôn nhớ đến cội nguồn, thờ phụng tổ tiên nhà chồng để bớt phần cô đơn, để phụng dưỡng mẹ già, bởi mẹ liệt sĩ Trần Đồng là bà Võ Thị Cườm, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có 5 người con liệt sĩ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Trên đây chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn lá thư của những người lính viết từ chiến trận. Có những lá thư về được với người thân, có những lá thư đã bị thất lạc hay đã bị đạn bom nghiền nát dọc đường hành quân, nhưng tất cả đều là những tâm tình, những dồn nén cảm xúc của người lính gửi về cho những người thân yêu nhất ở quê nhà.

Việc sưu tầm và giới thiệu những lá thư như thế có ý nghĩa rất lớn, bởi đây là một phần cuộc sống, tâm tư tình cảm của những người lính, những người ra đi giữ trọn một lời thề cho Tổ quốc quyết sinh. Đó là những lá thư thời chiến còn mãi với thời gian mà có dịp đọc lại, chúng ta tìm được trong đó hơi ấm của những trái tim một thời tràn đầy nhiệt huyết của thế hệ cha anh từng sống và chiến đấu, hy sinh, cho Tổ quốc này mãi mãi trường tồn.

Similar Posts