Tâm thư thời chiến của anh tôi

Năm 1968, anh tôi (liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh) đang học đại học Thể dục-Thể thao năm thứ hai. Ngày 4-7-1968, có lệnh tuyển quân, anh trúng tuyển quân sự với sức khỏe loại tốt (A1) và hôm sau nhận lệnh nhập ngũ. Sách vở, đồ đạc gửi lại Phòng Tổ chức để gửi về nhà với lời dặn “con không về, đồ đạc về coi như con về, con đi gấp” (Thư báo tin nhập ngũ). Anh đã hành quân suốt một buổi chiều và sáng mùng 6 tháng 7 năm 1968 anh tới được địa bàn đơn vị. Anh tôi đã lên đường như thế.

Anh trở thành người chiến sĩ ở tuổi hai mươi. Khép lại trang vở đại học, tạm biệt mái trường XHCN thân yêu-nơi đã giáo dục và đào tạo lớp thanh niên của thời đại có tâm hồn lành mạnh, trong sáng, có tư tưởng và dũng khí trước vận mệnh của đất nước.

Giờ lật lại những lá thư anh gửi từ chiến trường về cho cha mẹ, tôi đã hình dung được phần nào những năm tháng oanh liệt của anh tôi và đồng đội đã trải qua. Để có sức mạnh vượt Trường Sơn, ngay những ngày đầu anh cùng đồng đội ra sức học tập và rèn luyện: “Chúng con xác định với nhau là đi bằng đầu chứ không đi bằng chân” và để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng phải luyện cho mình một sức chiến đấu, một khả năng chiến đấu “đặt ba lô là đánh ngay” (thư). Có thể nói tinh thần tiến công cách mạng của người chiến sĩ giải phóng quân luôn luôn ở tư thế sẵn sàng rồi.

Trước khi đi B, anh tôi được về phép vài ngày. Hôm tiễn anh lên đường, bà và mẹ không khóc, anh hiểu vì sao mẹ không khóc. Miền Bắc những năm tháng đó là như vậy, cái riêng của từng nhà đã thành cái chung của nước non. Gia đình, làng xóm tiễn anh đi để anh thêm sức mạnh. “Ngay từ đất Hà Bắc chúng con đã được sự tiễn đưa ruột thịt làm cho chúng con rất cảm động, mẹ già, em nhỏ đang làm bất cứ việc gì cũng đứng lên vẫy chào” (thư). Người ra đi và người đưa tiễn cùng chung một tấm lòng hướng về tiền phương lớn. Có người mẹ như vậy, có nhân dân như vậy thì dẫu Trường Sơn bao suối bao sông, dẫu Trường Sơn mưa bom bão đạn cũng không ngăn cản được bước chân của người chiến sĩ giải phóng “con vẫn đạp gian khổ đi lên” (thư).

Anh hẹn với bà, mẹ và các em: “Hết giặc Mỹ con về, thống nhất anh về”. Lời hẹn ước mà sao thiêng liêng đến vậy. Đó cũng là lời hứa của người đi, tâm nguyện của người đi cứu nước: Hết giặc mới về!

Dừng chân ở một binh trạm Trường Sơn, anh viết: “Vào đây mới thấy hết cái tấp nập của ngày hội đánh Mỹ của dân tộc. Cả non sông đang trẩy hội, bọn anh cũng đang náo nức trong ngày hội lớn, gian nan nhiều lắm. Nhưng anh cũng vui và tự hào lắm. Thống nhất anh về, anh sẽ kể nhiều chuyện em nghe. Còn bây giờ em hãy tin bọn anh vẫn rất khỏe. Giải phóng quân vẫn điển trai lắm nghe” (thư gửi em gái). Những dòng thư đó rạng rỡ như ánh bình minh tỏa sáng.

Những năm 1969-1971, chiến trường miền Nam đang trong thời kỳ khốc liệt: “Anh và đồng đội kề vai sát cánh để chiến đấu. Tình cảm của những người cùng chiến hào càng keo sơn gắn bó và thắm thiết hơn khiến anh không chùn bước trước một khó khăn trở ngại nào. Anh xác định trong chiến đấu hy sinh là điều có thể. Nhưng vượt lên tất cả là nhiệm vụ, là niềm tin quyết thắng, chỉ có thể xả súng vào quân thù thì ngày mai sẽ đến “ngày ấy chắc không còn xa lắm” (thư).

“Gian khổ và nhiều hy sinh lắm. Lúc này đây con mới thấy phim ảnh không những không cường điệu sự gian khổ, ác liệt hy sinh của người chiến sĩ giải phóng mà còn chưa nêu đủ là khác. Tất nhiên càng hy sinh gian khổ thì càng lớn lên và càng tự hào phải không ba” (thư-bức thư thứ 19 đã nhòe).

Bức thư cuối cùng anh tôi viết vào ngày 12-1-1971, chưa đầy hai tháng sau anh ngã xuống nhưng bức thư đó phải một năm rưỡi sau gia đình mới nhận được.

Anh ngã xuống ở tuổi 23 – tuổi Xuân xanh mãi.

Bài và ảnh: Nguyễn Thị Nga

Similar Posts