Trao tặng kỷ vật về Cụ Đồ Mỹ – Người phụ trách công tác tuyên truyền vận động và quyên góp tiền cho nghĩa quân Yên Thế

LBT: Trong dịp Lễ hội Yên Thế lần thứ 29 vừa qua, Đại tá, nhà văn Phùng Thiên Tân (Cục trưởng X19 – Bộ Công an) và Đại tá Nguyễn Đăng An (Tổng cục V – Bộ Công an) cùng đã trực tiếp về Yên Thế – Bắc Giang, ủng hộ một hiện vật quý cho Bảo tàng Hoàng Hoa Thám: Bức ảnh chân dung và tư liệu về Cụ Đồ Mỹ, một Nhà chí sĩ yêu nước, Người phụ trách công tác tuyên truyền vận động và quyên góp tiền cho nghĩa quân Yên Thế (theo hồ sơ bằng tiếng Pháp, hiện đang lưu trữ tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ An ninh). Đây cũng là một phát hiện mới, làm giàu có thêm nguồn tư liệu về cuộc khởi nghĩa Yên Thế, cần được khai thác và giới thiệu rộng rãi với bạn đọc.
Trực tiếp đồng chí Lê Thị Thu Hồng, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư huyện ủy Yên Thế đã cảm ơn Đại tá Nguyễn Đăng An, Đại tá Phùng Thiên Tân và tiếp nhận những kỷ vật nêu trên.
Nhân đây, chúng tôi xin được giới thiệu một bài viết giới thiệu về hành trình tìm kiếm tư liệu và chân dung Người phụ trách công tác tuyên truyền vận động và quyên góp tiền cho nghĩa quân Yên Thế…

Đồng
chí Lê Thị Thu Hồng – Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Bắc Giang, Bí thư
huyện ủy Yên Thế, tiếp nhận kỷ vật do Đại tá Nguyễn Đăng An trao tặng
cho Nhà trưng bài Hoàng Hoa Thám. 

“Sau
70 năm, chờ đợi mỏi mòn của cả gia tộc, gia đình, với biết bao nhiêu cố
gắng của con cháu, nhưng tới lúc mọi chuyện ngỡ đã chìm vào tuyệt vọng
và quên lãng; thì như một sự bù đắp của số phận ông nội tôi, một nghĩa
quân của Hoàng Hoa Thám đã được Cục hồ sơ nghiệp vụ An ninh thuộc Tổng
cục an ninh II tìm ra, trước sự ngỡ ngàng đến bàng hoàng. Tôi đã thưa
với mẹ tôi về chuyện này. Mẹ tôi run rẩy cầm tờ phô tô hồ sơ bằng tiếng
Pháp lưu trữ từ năm 1924. Dù không nhìn rõ được gì nhưng người cảm động
nói rằng: “Vậy là mẹ an lòng khi về với tổ tiên rồi”…..Và mẹ khóc… Tôi
se sắt cả cõi lòng, gần 100 tuổi rồi; Mẹ tôi ngước nhìn trời… Tôi bổng
rùng mình, trong ánh hoàng hôn rực như màu than sắp tàn, tóc mẹ tôi bạc
trắng hết”… Đại tá Nguyễn Đăng An, nguyên cán bộ Tổng cục Tình báo Bộ
Công an kể lại.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi!

Đại
tá Nguyễn Đăng An kể tiếp: Anh trai tôi – ông Nguyễn Đăng Chế nguyên
Phó giám đốc Công ty đường bộ 470 (một cựu chiến binh nổi tiếng trên phà
bến thủy Vinh, những năm máu lửa) tác giả của những bài thơ viết về
TNXP khá nổi tiếng với những câu gan ruột “Bến Thủy một thời máu nhớ bàn chân
nhiều lần kể với tôi là mẹ vẫn kể ngày xưa, bà nội có nói rằng: Ông nội
con cụ đồ Mỹ; tham gia hoạt động yêu nước bị Pháp bắt, đày đi Côn Đảo
và từng bị chúng cắt gót chân vì tội “cứng đầu”. Khi ông bị giam ở nhà
lao Vinh và nhà lao Thừa Thiên; thì bà phải bán rất nhiều ruộng để mang
chuộc ông về, nhưng tội nặng quá, sau đày ra côn đảo.

Ông
nội tôi ngoài hoạt động yêu nước, còn là một tài năng về mặt văn
chương. Trong cuốn văn thơ các nhà nho xứ Nghệ do Phó Giáo sư  Ninh Viết Giao biên soạn, có in thơ văn, câu đối của cụ; thơ văn của cụ khá nhiều nhưng tôi thích nhất là bài Vịnh cây hồng: “Cha
ông vun đắp một cây hồng/ Trải bấy nhiêu niên giữa cõi đông/ Ngon ngọt
đã đồn ran đất nước/ Chát chua chi có với non sông/ Những cành đỏ thắm
ai mua được/ Mấy quả tươi xanh chớ bán rong/ Mưa gió khuyên nhau vun cội
lại/ Ai ơi! Giữ lấy của cha ông
”. Hoặc câu đối cụ làm khi hơn 200 người dân ngã xuống trong cuộc biểu tình Thái Lão (Cao trào 30-31): “Trống
tự do náo nức giữa thành Hoan, nào kể chi tàu bay bướm lượn, tạc đạn
sấm ran, ngất trời rực rực lửa oan cừu, xót một nỗi đồng bào, giọt máu  lạc
hồng đem rưới khắp/cờ kách mệnh phất phơ trong bể Á, chỉ toan những đạp
đổ cường quyền, phá tan tư bản; dậy đất ù ù gan nghĩa liệt; hú ba hồn
cố quốc, mảnh gương xô viết quyết soi chung
”.

Anh
tôi bảo: “Giao cho chú đó” – Việc tìm lại chân dung cuộc đời hoạt động
của ông nội và mẹ tôi, như tôi đã nói với anh đó, người muốn trước lúc
về với tổ tiên, danh chính ngôn thuận ông nội tôi phải được công nhận.

Nói
thật với anh tôi làm trong ngành tình báo, chủ yếu hoạt động ở nước
ngoài, việc nước tôi chu tất, nhưng việc nhà thì… thật như “Mò kim đáy
bể”. Gia đình tôi, ngoài chuyện ông nội chưa có hồ sơ xác đúng, để công
nhận là người có công với cách mạng theo Hướng dẫn số 30 của Ban Tổ chức
Trung ương, thì còn một người anh cả hy sinh ở chiến trường Cam Pu Chia
đến nay cũng chưa tìm được mộ. Thú thực những lúc bôn ba nơi quê người
đất khách vì nhiệm vụ quốc gia, trong tôi có lúc dội lên đau đớn một câu
thơ cổ mà tôi nhớ cũng không rõ lắm nhưng cứ khắc khoải một nỗi niềm xa
xứ: “Quê hương đâu dễ dầu dần bạc/ Quán khách khôn cầm tóc trắng xanh…”!


tôi đã cố gắng tìm, tìm mãi, cho tới một ngày tôi chợt nhận ra mình đã
gần về hưu rồi. Suốt bao nhiêu năm qua, anh em chúng tôi và nhất là bản
thân tôi đã gặp người này, tìm người kia, hỏi hồ sơ chỗ này, lục giấy tờ
chỗ kia… cho đến khi tóc trên đầu tôi có sợi chớm bạc mà cũng chưa hoàn
thành được ước nguyện. Có lẽ những năm cuối đời, nghĩ đến bao nhiêu năm
ông nội vào tù ra tội mà cái giấy chứng nhận cũng không còn; anh tôi
gửi nắm xương nơi đất khách quê người… Và cha tôi đã khóc…


mỗi khi về quê; tôi lại rờn rợn; cái dáng mẹ ngồi bên thềm nhìn ra ngõ
vắng, anh nắng vàng xiêu; mẹ lóng ngóng rờ rầm tôi… “An về đó à! Có tin
gì không con…” sinh cả một đàn con mà giờ mẹ ở một mình, trống vắng
những khi chiều xuống… Hình như có một lần anh Chế nghe một ông già mù
hát bên góc sân ga, một bài hát gì đó về chiến tranh, về người lính
không trở về và trong sổ tay, tôi thấy anh viết: “Ôi tiếng hát làm tim tôi rỉ máu/Chính tôi mù ông có mù đâu” ?…

Rồi có lần gần đây anh tôi gọi điện: “Mẹ mơ thấy ông ấy về, ông mắng; Tại sao ông có tên trong sổ sách Nhà nước, mà mấy đứa không tìm”… Tôi buồn quá…

– Sau đó thì sao? – Tôi hỏi, hơi sốt ruột.

Đại
tá Nguyễn Đăng An có lẽ đã qua cơn xúc động với những tháng ngày ảm
đạm; đẩy tách trà bốc khói về phía tôi; ông Chế và ông Sinh (Thượng tá,
công an tỉnh Ninh Thuận) cùng xúm vào bàn cãi. Tôi thấy là lạ ba ông ở
cái tuổi làm ông cả rồi, mà tranh nhau kể chuyện như thuở còn nằm ổ rơm;
nhưng cơ bản là họ nhường cho ông An nói. Còn ông Chế ngồi trầm tư như
một tảng đá giữa mùa mưa. Ông Sinh chống cằm, mắt xa xôi như có làn hơi
nước thoảng qua.


ngoài đời danh và vị của mấy ông có thể làm người ta sợ, nhưng giờ đây
sao họ hồn nhiên đến lạ: ông An tiếp: “Bỗng dưng lúc đang rối ruột ấy có
ông bạn tên Sách gọi điện thoại, mời ra quán uống rượu, thấy nét mặt
tôi như gợi nhiều dĩ vãng, ông hỏi chuyện. Tôi kể, nghe xong ông đặt vội
chén xuống, rượu sánh ra cả mâm: “Em là thằng phụ trách mảng hồ sơ ấy
đây, anh ghi rõ nội dung, em tìm cho, may ra… Tôi cười gượng như đàn bà
quá lứa, viết rõ thông tin: “Nguyễn Thế Mỹ, thường gọi là Đồ Mỹ. Sinh 1878 tại Nhạn Tháp – Vĩnh Thành – Yên Thành – Nghệ An”.


những nội dung có liên quan về ông nội tôi, rồi trao cho Sách, lòng
không khỏi bâng khuâng “Hết duyên ngồi gốc cây hồng…” thôi thì cứ gửi…
Nhưng thật bất ngờ, ngay sau hôm đó, Sách gọi điện, “Có tin vui, em lục
hồ sơ đúng với địa chỉ anh nêu, hồ sơ bằng tiếng Pháp, em mới dịch ra
một ít, nếu anh đọc được mời anh đến, đính chính cho em, rồi về làm hẳn
một cái đơn xin xác nhận, gửi hồ sơ thì em sẽ hồi âm!”

Tôi
quýnh quáng, đi ra vấp phải cái bậc cửa; “Chú này cứ hay đùa… nhưng mà
không, chuyện quan trọng thế này!… Tôi vơ vội cái áo khoác, đi ngay… ông
An ngừng lời.

Tôi cười nói: “ly kỳ rồi đây; Hôm nay các bác định đưa tôi về chuyện huyền bí học, thông qua những cái ngẫu nhiên”.

Ông
An giơ tay chặn lại: “Đúng vậy. Tôi lấy tư cách của một Đại tá Công an
đảm bảo cho cậu những thông tin này, vì tôi biết ngoài đi dạy và làm báo
cậu có để ý đến tâm linh và phật học”. Vấn đề là câu chuyện này, chúng
ta nên có một cái nhìn nghiêm túc và biết ơn các nhà ngoại cảm cũng như
biết khai thác trực giác khi liên quan đến vấn đề tín ngưỡng…” ông đưa
ra phúc đáp của cơ quan chức năng: Tôi xin ghi chép lại một số thông tin
như sau:

Tổng cục an ninh II, cục hồ sơ nghiệp vụ an ninh số 4074/ XN – A93- P4 V/v cung cấp thông tin về cụ Nguyễn Thế Mỹ (Đồ Mỹ)

Hà Nội, ngày 16/6/2011.

Kính gửi ông: Nguyễn Đăng An

Địa chỉ: số nhà 54/44, phố Hào Nam, Phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, TP Hà Nội.

Cục Hồ sơ nghiệp vụ An ninh trả lời đơn của ông ngày 14/4/2011,
đề nghị xác nhận quá trình hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày trước
năm 1945 của ông nội tên là: Nguyễn Thế Mỹ (tức: Đồ Mỹ), sinh năm 1878;
nguyên quán: Làng Nhạn Tháp, tổng Quan Sơn, huyện Đông Thành (Yên
Thành), tỉnh Nghệ An, có bố tên là Nguyễn Đăng Khánh, vợ là Hoàng Thị
Thông và Nguyễn Thị Cảnh Tuân.

Tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh có thông tin phản ánh về một người có tên và quá trình hoạt động như sau:

Họ và tên: Nguyễn Tế Mỹ; tên khác Nguyễn Thế Mỹ, Nguyễn Hải Châu, Đồ Trinh, Đồ Mỹ. Năm sinh: (không rõ)

Nguyên quán: Làng Nhạn Tháp, huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An

Họ và tên cha, mẹ, vợ (không rõ)

Quá trình hoạt động: Thời kỳ trước năm 1923, cụ Nguyễn Tế Mỹ
tham gia phong trào yêu nước do Ngô Quảng lãnh đạo chống thực dân Pháp.
Từ năm 1923 – 1924, cụ Nguyễn Tế Mỹ bị mật thám Pháp truy nã vì tham gia
phong trào yêu nước do Đề Thám (tức Hoàng Hoa Thám) lãnh đạo chống thực
dân Pháp, cụ được giao nhiệm vụ làm công tác tuyên truyền vận động và  quyên góp tiền cho tổ chức.

Trong hồ sơ thu được của mật thám Pháp hiện lưu trữ tại cục hồ
sơ nghiệp vụ an ninh. Ngoài những thông tin trên chưa tìm được thông tin
nào khác về cụ Nguyễn Tế Mỹ.

Cục hồ sơ nghiệp vụ an ninh thông báo để ông biết.

Ký thay cục trưởng, phó cục trưởng: Đại tá Nguyễn Đức Đoái

Để
minh chứng thêm, ông An đưa cho tôi bản gốc lưu trữ bằng tiếng Pháp,
rất tiếc tôi không thạo tiếng Pháp nên chỉ ghi lại những chữ có tiếng
Việt “Số liệu hồ sơ 4998, Huế, tháng 5/1924: Đồ Trinh, (Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Thế Mỹ); Nhạn Tháp, huyện Yên Thành (Nghệ An). Ở dưới cùng có dòng chữ: Hoạt động yêu nước”…
Cầm được những phúc đáp ấy trên tay, ông An sôi nổi, mừng cuống cả lên,
“Trời ơi… bao nhiêu năm… bà con ơi… xóm làng ơi! Nhưng sao lại thế này;
sao lại có tên gọi là Đồ Trinh”, tôi về nhà, các cụ già vuốt râu cằm
nói; đúng cụ Đồ làng ta rồi; ở quê mình, thường lấy tên con đầu để gọi
tên cha, mà bác ruột tôi là Nguyễn Đăng Trinh, con cả của ông nội, vậy
là chính xác… chuyện còn lại của anh em bọn tôi bây giờ là tiếp tục nhờ
các cơ quan chức năng làm sáng tỏ tư liệu của ông nội đã sống trong các
nhà tù Vinh, Thừa Thiên và Côn Đảo.


Phục dựng chân dung nhờ một nhà ngoại cảm

Cuộc
đời cũng lạ, có lúc tưởng đã “tuyệt đường non nước, nào ngờ/ Một thôn
xóm lạ lại chờ nơi đây” như một câu thơ cổ; anh em ông An trở về làng,
xóm dưới, thôn trên tưng bừng cả lên trước sự kiện lạ kỳ này, các bậc
cao niên ngẩng nhìn ngọn núi Động Thờ quanh năm mờ ảo sương khói, ông
trời thương dân làng ta, đã trả cụ Đồ về đúng vị trí vẻ vang của cụ..”

Cũng
lúc ấy xẩy ra một chuyện lạ nữa, ông bác họ của ông An, Nguyễn Đăng Lục
nguyên Phó giám đốc Mỏ than Đông Triều (Quảng Ninh) có đứa cháu đích
tôn bị bệnh nghiêm trọng (máu trắng) ông vái hết đền chùa, đến lúc đã
cạn nước mắt; bỗng có một nhà ngoại cảm bảo rằng: Ông có một bà chị
ruột, mồ mả ở quê bị thất lạc; về tìm lại, may ra cháu khỏi bệnh…

Đang
lúc rối như canh hẹ, ông Lục chợt nhớ đến nhà ngoại cảm Anh Quân,
nguyên là thuộc hạ của ông Lục, một công nhân hầm lò, chí thú làm ăn và
sau một vụ tai nạn thảm khốc, ông sống sót lại, trong khi các bạn cùng
hầm lò không qua khỏi. Cú sốc đau thương và thoát hiểm này đã dội vào võ
não ông một năng lượng kỳ lạ, bằng một chiếc điện thoại di động, không
sim không thẻ. Với một sự tập trung cao độ, tạo ra một dạng năng lượng
đặc biệt (gần như nhập định trong ngồi thiền) ông tiếp xúc với thân
trong ấm của người đã mất, kéo từ trường của họ hội tụ lại trên mộ, tại
nơi ấy, ông đặt một tờ bạc âm phủ, trên để chiếc điện thoại độc nhất vô
nhị của ông; ở phút đỉnh điểm giao thoa của người âm và người dương, các
điện tích âm tụ lại  trên điện
thoại di động ấy, hội thành di ảnh của người đã mất, việc ấy diễn ra
trong mấy giây; người nhà và con cháu phải dùng các phương tiện hiện
đại: Máy di động loại tốt, máy ảnh cực nhạy…

Phục
sẵn giây phút linh thiêng ấy để bấm máy, hòng ghi lại hình ảnh tột bậc
chờ mong của họ tộc… Chuyện lạ, phúc chủ lộc thầy, có nhà được, có nhà
không, xác suất thành công không ai dám đảm bảo. Hôm ấy thấy ông Lục cứ
ấp úng mãi chuyện nhà mình; ông Quân cười, hứa sẽ về Nhạn Tháp mong sao
cứu độ được thằng bé, lúc ấy đang thập tử nhất sinh tại bệnh viên Bạch
Mai (Hà Nội).

Nhà
ngoại cảm Anh Quân xuất hiện dưới chân núi Động Thờ, nơi mồ mả dòng họ
Nguyễn Đăng làng Nhạn Tháp táng ở đây; mấy chục năm trước việc quy tụ
rất vất vả, lúc ấy phong trào hợp tác hóa, người ta cứ đưa mộ theo hình
luống khoai thất lạc là điều dễ hiểu, ngay cả mộ cụ Đồ Mỹ, người mất năm
1941, tính đến nay đã 70 năm, trong đó lại có tiếp 50 lạc mộ; cuộc đời
của cụ là lúc mất còn phải chịu oan uổng, bởi khi đứng trước là gia tộc,
cháu con chịu không biết mộ cụ chính xác nằm ở chỗ nào? Bởi tuổi trẻ
cháu con tham gia bom đạn, quê hương chìm trong máu lửa, đến khi ngã
bóng chiều tà về lại lũy tre làng, chỉ biết chắp tay tạ lỗi với tổ tiên …

Câu
chuyện kỳ lạ chúng tôi kể sau đây không phải để tuyên truyền cho trò mê
tín dị đoan, mà đó là phẩm chất tâm linh đích thực, hơn nữa, người cung
cấp tư liệu trực tiếp là một Đại tá và tôi thiết nghĩ: Có lẽ do năng
lượng của sự chờ mong dằn vặt, đau đớn, hy vọng của ông An và cả gia tộc
trong mấy chục năm trời đã tạo nên được một quả báo lành lặn hiếm thấy
và mộ bà chị ông Lục đã tìm được, đứa cháu đã khỏi bệnh, ảnh của bà còn
có cả mái tóc dài (bởi bà mất trẻ, vào một ngày của năm 1951). Người
làng Nhạn Tháp kinh ngạc, trẻ con ít dám khóc đêm hơn, xóm làng như bình
yên hẳn; giờ thì ai cũng bảo, chết chưa phải là hết, cứ trộm cắp cho
lắm vào người âm về thì cho chết … Và họ lên nghĩa địa, lặng im nhìn
nhau kinh hãi, trời nắng mà mồi hôi cứ như rươi ra.

Đi
qua phần mộ gia đình ông An; nhà ngoại cảm Anh Quân dừng lại “Ở dưới
này có mộ một người ở hàng lãnh tụ”… Ông An lạnh cả xương sống, lạy
trời… khi nghe tin bác Lục đã cùng ông Quân về tìm mộ, cả gia đình ông
An đi chầu chực tại một “Trung tâm hỗ trợ tìm kiếm liệt sĩ” ở Nam Đàn,
đã mấy ngày rồi chưa thấy thông tin gì, nhân lúc ấy nhận được điện thoại
của ông Lục, họ ào ào tuôn về quê, bái kiến nhà ngoại cảm, ông ấy chỉ
cười, uống nước và bảo “tôi cũng chả giám hứa điều gì, nhân việc làm cho
nhà ông Lục, tôi sẽ ghé qua lăng mộ nhà bác, may ra tìm được lại mộ cụ
Đồ, có điều các bác cảm thông cho, tôi không giám hứa…”

Khi
ấy ông Quân làm một động tác gì đó như đối thoại với người âm để lấy
thông tin, rồi im lặng về nhà… Suốt đêm ấy cả gia đình ông An mất ngủ,
bởi cũng trong ngày hôm ấy nhà ngoại cảm còn lấy được thông tin tại ngôi
mộ (chiêu hồn) của liệt sĩ Nguyễn Trường Sơn – người anh cả của gia
đình mà họ mất cả bao năm tìm kiếm ở Cam Pu Chia mà chưa ra; sau để yên
lòng mẹ già, họ nhờ người làm một ngôi mộ giả trong làng gia tộc “gọi
hồn nhập xác” để có chỗ khói hương cho ấm cõi âm”.

Sáng
hôm sau nhà ngoại cảm cùng gia đình trở lại chân núi Động Thờ; giây
phút thiêng liêng xuất hiện; ông run run trải tờ bạc âm phủ xuống ngôi
mộ mà ông đoán chính xác là mộ cụ Đồ, đặt chiếc điện thoại kỳ lạ lên
hàng loạt máy ảnh đủ các loại quy tụ về điểm quy định đặc biệt ấy; nín
thở chờ đợi… gió xào xạc trong lũng núi, một làn gió mát lạnh thoảng
qua, mùi hương trầm lửng lơ trên bãi cỏ…

 Chụp…
Tiếng nhà ngoại cảm khản đặc lại vì cảm động, hình ảnh một cụ già xuất
hiện, tất cả đồng loạt bấm máy, và lạ lùng thay, người chắt nội của cụ
Đồ; chị Nguyễn Thị Minh, chụp được ảnh rõ nét nhất. Việc rửa ảnh được
đem đi làm ngay lập tức, khi cầm tấm ảnh phóng to trên tay, cả gia tộc
lại lần nữa lặng đi vì kinh ngạc; mẹ ông An, cụ bà Cao Thị Dung đã gặp
lại cha chồng; cụ khóc… cả một kiếp làm người của cụ, đã gồng gánh trên
vai bao nhiêu oan khuất, người cha chồng sau 70 năm kể từ khi mất; và
sau 50 năm kể từ ngày quy tập mộ về làng, nhưng bị lạc, nay tâm nguyện
về nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Thế Mỹ, tức Đồ Mỹ, tức Đồ Trinh, tức
Nguyễn Hải Châu… như vây là đã được toại nguyện!

A
di dà Phật… Đức phật đại từ đại bi… cứu khổ cứu nạn; Bà phải sống để
nhờ nhà ngoại cảm Anh Quân tìm kiếm đứa con trai của bà về; Và lúc này,
bà như nghe văng vẳng đâu đây lời câu đối của cụ Nhu (ở Nghi Trường –
Nghi Lộc – Nghệ An) viếng cụ Đồ Mỹ vào một ngày bảy mươi năm trước
(1941): “Người hay là đá? Tại sao
nhiều phen nghiền xương mà không chết nơi Côn Lôn đảo biển? Than ơi!
Muôn dặm chốn rừng sâu, buồng kín đầy ma quỷ, nghìn lần núi tuyết, dãi
gió dầm sương, tưởng sẽ hóa ra cây đàn gảy, con gà gọi, bánh xe lăn, mà
nên kẻ sĩ ngang tàng khắp thiên hạ/ Người có đơn thuốc thần diệu chăng?
Nhuốm được nhiều màu da, tóc,  bèn
sống trọn ở dưới chân ngọn núi Động Thờ, ngọn núi tháp ấy, tốt, tốt,
tốt, một bồ sâm truật, bồi bổ cho khí cốt, vài tập thơ văn
”…

Trần Ngọc Khánh

(Yên Thành – Nghệ An)

Similar Posts